Đặt vấn đề Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT), hiện nay Việt Nam đang là một trong số những quốc gia có lượng tiêu thụ thuốc BVTV rất lớn, việc lạm dụng loại hóa chất độc hại này đã và đang gây nhiều hậu quả gây tác động xấu đến môi trường cũng như sức khỏe cộng đồng trong hiện tại và tương lai. Ô nhiễm môi trường do rác thải bao bì thuốc BVTV ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam hiện đã và đang đến mức báo động. Do thói quen, sau khi sử dụng thuốc BVTV, bản thân người nông dân thường vứt bao bì, chai, lọ chứa thuốc BVTV ngay trên đồng ruộng hoặc bỏ xuống ao, sông, kênh rạch mà không có hình thức thu gom và tiêu hủy hợp lý. Phần lớn các loại rác từ bao bì thuốc BVTV là những chất rắn, rất khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên.
Đó là các loại vỏ chai nhựa, chai thủy tinh, bao bì nylon… Do đó, khi nông dân vứt bừa bãi hay chôn, chúng sẽ tồn tại trong môi trường một thời gian dài. Những hóa chất và chai, lọ thuốc bảo vệ thực vật này sẽ thúc đẩy nhanh quá trình suy thoái và gây ô nhiễm môi trường. Trước nhu cầu sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất ngày càng tăng, lượng rác thải từ thuốc BVTV cũng ngày một nhiều, nên việc thu gom tập trung và xử lý rác thải độc hại từ thuốc BVTV đã và đang trở thành vấn đề bức xúc. Xuất phát từ tình hình thực tế đó, nhận được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.s Nguyễn Duy Hải, tôi tiến hành thực hiện đề tài "Đánh giá hiện trạng công tác thu gom và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài nhằm củng cố kiến thức, trang bị thêm cho bản thân những kiến thức thực tiễn cần thiết, đồng thời rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác chuyên môn sau này. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu, điều tra đánh giá công tác thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV trên địa bàn xã Pa Tần.
- Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý, thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV trên địa bàn xã Pa Tần. - Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm do bao bì thuốc BVTV, nâng cao nhận thức cộng đồng cũng như nâng cao chất lượng công tác quản lý thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV góp phần bảo vệ môi trường khu vực xã Pa Tần. Yêu cầu nghiên cứu - Thu thập tài liệu, số liệu một cách khách quan, trung thực, chính xác. - Tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV trên địa bàn theo bộ câu hỏi phiếu điều tra kết hợp phỏng vấn nhanh.
- Các giải pháp đưa ra phải có ý nghĩa thực tiễn và phù hợp với tình hình của địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học - Vận dụng các kiến thức đã học tập làm quen với thực tế. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường sau này.
Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được hiện trạng công tác thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV trên địa bàn khu vực xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. - Tạo cơ sở đề xuất được các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng công tác quản lý, thu gom và xử lý rác thải bao bì thuốc BVTV trên địa bàn xã Pa Tần. - Nâng cao nhận thức cộng đồng, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho người dân địa phương. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan về thuốc BVTV 2. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan: - Khái niệm về môi trường Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người và có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. - Khái niệm về hóa chất BVTV Là danh từ chung dùng để chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các Vector gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng (Trần Văn hải, 2008) [7]. - Khái niệm về thuốc BVTV: Thuốc bảo vệ thực vật là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …) (TT 03/2013 – TT/BNNPTNT).
- Khái niệm về chất độc Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật bị ngộ độc hoặc bị chết (Trần Oánh và cs, 2007) [19]. - Khái niệm về độc tính Độc tính: Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lượng nhất định của chất độc đó( Trần Oánh và cs, 2007) [19]. Theo từ điển Bách n 4 Khoa Việt Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật. Độc tính được chia ra các dạng: Độc cấp tính: chất độc xâm nhập vào cơ thể sinh vật gây nhiễm độc tức thì, ký hiệu LD50 (Letal Dosis 50), biểu thị lượng chất độc (mg) đối với 1kg trọng lượng cơ thể có thể gây chết 50% cá thể vật thí nghiệm( thường là chuột hoặc thỏ).
Nếu chất độc lần với không khí (hơi độc hay ở trong nước) thì được ký hiệu LC50 ( Letal Concentration 50) biểu thị lượng chất độc (mg) trong một m3 không khí hoặc một lit nước có thể gây chết 50% cá thể thí nghiệm. LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độ độc cấp tính càng cao. Độc mãn tính(độc trường diễn): Chỉ khả năng tích lũy chất độc trong cơ thể, khả năng gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng. - Khái niệm về ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng tới con người và sinh vật [22].
Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và Việt Nam a. Trên thế giới Chỉ trong thời gian hơn nửa thế kỷ qua, nhất là những năm 1980 cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành KHCN, thuốc BVTV cũng được phát minh và sử dụng ngày càng nhiều và đã đem lại những lợi ích kinh tế to lớn. Tới nay đã có hàng ngàn chất được sáng chế và sử dụng làm thuốc BVTV. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1972 toàn thế giới sử dụng lượng thuốc BVTV trị giá 7,7 tỷ USD, năm 1985 khoảng 16 tỷ USD, đến năm 1990 sử dụng trên 3 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV, trị giá khoảng 25 tỷ USD.
Trong đó thuốc trừ cỏ chiếm 46%, thuốc trừ sâu chiếm 31%, thuốc trừ bệnh 18%, và 5% là các thuốc khác. Khoảng 80% thuốc BVTV sản xuất ra được sử dụng ở các nước phát triển. Tuy vậy, tốc độ sử dụng thuốc BVTV ở các nước đang phát triển tăng 7-8%/năm, nhanh hơn các nước phát triển (2-4%/năm). Trong đó chủ yếu là các thuốc trừ sâu (chiếm 70%) (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2006)[9].
n 5 Sản lượng HCBVTV thế giới tăng lên theo thời gian, năm 1955 thế giới sản xuất ra gần 400 nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3 triệu tấn mỗi năm. Đến nay thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2. Tuy vậy, mức đầu tư và cơ cấu tiêu thụ các nhóm HCBVTV tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước. Ở Việt Nam Theo thống kê, số tiền mỗi năm nước ta bỏ ra để nhập khẩu thuốc BVTV về cũng không hề nhỏ, năm 2013 lên đến 700 triệu USD.
Nếu đem so sánh với giá trị thu về do xuất khẩu chè của cả năm thì số tiền này lớn hơn gấp 3 lần. Còn cộng cả tiền nhập khẩu thuốc BVTV, phân bón, lúa giống thì cũng gần bằng tiền thu về do xuất khẩu gạo. Như thế, sự đánh đổi này có là quá đắt? Từ những năm 1980, các nước trên thế giới đã nhận ra sự nguy hại khi lạm dụng thuốc BVTV và trong 20 năm qua liên tục giảm sử dụng lượng hóa chất này (Thụy Điển giảm 60% lượng thuốc, Đan Mạch, Hà Lan cũng giảm 50%), thì nước ta lại đang đi ngược lại. Việc cắt giảm số lượng thuốc BVTV, kiểm soát chặt chẽ từ nhập khẩu đến kinh doanh, sử dụng mặt hàng này là việc làm cấp bách và hoàn toàn nằm trong tầm tay của các cơ quan chức năng nếu thực sự quyết tâm vào cuộc.
Trong những năm gần đây, thuốc BVTV được sử dụng tăng lên đáng kể, cả về số lượng lẫn chủng loại. Theo báo cáo của Bộ thương mại thì hàng năm, mức tiêu thụ thuốc BVTV trong nước khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một số lượng không nhỏ được nhập cảng lậu qua đường biên giới mà chính quyền không thể kiểm soát được. Việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng nhiều, đồng thời với lợi ích mang lại cũng đã thể hiện những hậu quả xấu đối với con người và môi trường sinh thái, đi ngược lại nỗ lực nhằm xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Hiện nay số lượng và chủng loại HCBVTV sử dụng ở nước ta tương đối cao so với các nước trong khu vực.
n 6 Những hoá chất có độc tính cao đã từng bước được loại ra khỏi thị trường và thay vào đó là các loại HCBVTV ít độc hại hơn đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Tính độc của thuốc BVTV Chủng loại thuốc BVTV đang sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng.