Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước thải y tế là loại hình chất thải đặc thù mang nguy cơ ô nhiễm môi trường và rủi ro dịch tễ cao. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được trích dẫn trong văn bản, khoảng 80% lượng nước thải bệnh viện có tính chất tương tự nước thải sinh hoạt thông thường, nhưng 20% còn lại là chất thải nguy hại (gồm 10% chất thải nhiễm khuẩn và 5% chất thải độc hại như hóa chất xét nghiệm, chế phẩm điều trị, chất gây độc tế bào và chất phóng xạ). Sự hiện diện của các vi trùng gây bệnh cùng dư lượng kháng sinh và hóa chất sát khuẩn không chỉ gây ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận mà còn tiêu diệt hệ vi sinh vật có lợi, phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên và làm gia tăng nguy cơ lan truyền mầm bệnh nguy hiểm trong cộng đồng dân cư.

Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế, được thành lập từ năm 1951, đặt tại số 479 đường Lương Ngọc Quyến, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên. Bệnh viện có nhiệm vụ khám và điều trị cho nhân dân các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc, phục vụ trực tiếp trên 1,2 triệu dân của tỉnh Thái Nguyên. Trạm xử lý nước thải cũ của bệnh viện được đầu tư xây dựng từ năm 1997 với công suất 360 m³/ngày đêm theo công nghệ sinh - hóa học. Đến năm 2002, hệ thống này bắt đầu xuống cấp do hư hỏng thiết bị sục khí cơ học và rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng, dẫn đến nhiều chỉ số ô nhiễm (BOD₅, COD, NH₄⁺, dầu mỡ, Coliform) sau xử lý vượt quy chuẩn cho phép. Trước thực trạng đó, đề tài khóa luận được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu quan trắc thực tế và đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý mới.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu, đánh giá chất lượng nước thải tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và đề xuất giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng môi trường.
  2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng nước thải phát sinh tại bệnh viện;
    • Khái quát và phân tích sơ lược các công nghệ xử lý nước thải bệnh viện;
    • Phân tích các thành phần hóa lý và vi sinh vật trong nước thải theo quy chuẩn của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường;
    • Đề xuất một số biện pháp quản lý và phương pháp xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng nước thải, hệ thống mạng lưới thu gom và công trình xử lý nước thải tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ khuôn viên Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (tọa độ trung tâm: 21°35'27"N, 105°49'87"E).
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 9/2015 đến tháng 11/2015, có kế thừa chuỗi số liệu quan trắc định kỳ các năm 2013, 2014 và 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên các khái niệm môi trường chuẩn tắc (quy định tại Luật Bảo vệ Môi trường và định nghĩa của UNESCO), bản chất ô nhiễm nước thải y tế và cơ chế của các quá trình xử lý:

  • Các thông số giám sát môi trường nước: Độ pH, chỉ số DO (lượng oxy hòa tan), BOD (nhu cầu oxy sinh hóa), COD (nhu cầu oxy hóa học), chất rắn lơ lửng (SS/TSS), các hợp chất chứa nitơ (Amoni NH₄⁺, Nitrat NO₃⁻), photphat (PO₄³⁻), H₂S và vi khuẩn chỉ thị Coliform.
  • Khung pháp lý và quy chuẩn áp dụng: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (Luật số 52/2005/QH11), Luật Bảo vệ Môi trường 2014, Luật Tài nguyên nước năm 2012 và 1998; Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 25/2013/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT, Thông tư số 31/2013/TT-BYT, Thông tư số 18/2013/TT-BYT; Chỉ thị số 05/CT-BYT; Quyết định số 4507/QĐ-BYT; các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia gồm QCVN 28:2010/BTNMT (cột B), QCVN 08:2008/BTNMT, QCVN 09:2008/BTNMT, QCVN 14:2008/BTNMT, QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 24:2009/BTNMT, QCVN 07:2009/BTNMT, QCVN 05:2009/BTNMT, QCVN 06:2009/BTNMT, QCVN 26:2010/BTNMT, QCVN 17:2010/BTNMT; tiêu chuẩn ngành TCN - TCYT 39:2005 và tiêu chuẩn TCVN 7382:2004.
  • Nguyên lý các quá trình công nghệ: Xử lý cơ học (song chắn rác, bể điều hòa, bể lắng, bể lọc, tuyển nổi); xử lý hóa lý (keo tụ bằng phèn nhôm, phèn sắt, hấp phụ bằng than hoạt tính/tro xỉ); xử lý sinh học hiếu khí (quá trình oxy hóa hữu cơ, tổng hợp tế bào mới, phân hủy nội bào) và sinh học kỵ khí (4 giai đoạn: thủy phân, acid hóa, acetate hóa, methane hóa). Tổng quan các công nghệ xử lý nước thải bệnh viện gồm DEWATS, Johkasou (KUBOTA), Bể lọc sinh học nhỏ giọt, Aerotank truyền thống, MBBR và quy trình AAO (Yếm khí - Thiếu khí - Hiếu khí).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu: Khai thác tài liệu thứ cấp về quy hoạch, mặt bằng, hồ sơ hạ tầng kỹ thuật và các báo cáo giám sát môi trường định kỳ của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
  • Phương pháp lấy mẫu hiện trường: Tuân thủ quy trình kỹ thuật lấy mẫu và bảo quản theo TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2:1991), TCVN 5993:1995, TCVN 5994:1995, TCVN 5996:1995. Mẫu nước thải được lấy tại các vị trí dòng chảy xoáy trên cống rãnh, giếng thu gom, bể xả cuối cùng trước nguồn tiếp nhận bằng xô dây dài và ca định lượng. Mẫu nước ngầm được lấy tại giếng khoan khu vực căng tin sau khi xả vòi 5–10 phút để loại bỏ nước đọng. Quá trình lấy mẫu tiến hành trong điều kiện thời tiết nắng ráo, nhiệt độ 23°C; mỗi vị trí lấy 2 lần x 250 ml và lưu trữ trong bình dung tích 500 ml.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Mẫu được phân tích tại Trung tâm Quan trắc và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đối với các chỉ tiêu pH, TSS, BOD₅, COD, tổng Nitơ, tổng Photpho, Amoni, Nitrat, H₂S, Coliform (theo TCVN 6187-1:1996 / ISO 9308-1:1990), E. coli và Salmonella (theo SMEWW 9260 B).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê, lập bảng đối chiếu số liệu quan trắc thực tế với các giới hạn quy định tại QCVN 28:2010/BTNMT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Tác giả nêu bật tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự mở rộng quy mô khám chữa bệnh và nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng từ nước thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái. Giới thiệu vị trí pháp lý, vai trò của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên (bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế) và phản ánh thực trạng hệ thống xử lý nước thải cũ đang trong tình trạng chắp vá, quá tải. Xác định 1 mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, yêu cầu đảm bảo tính trung thực, khách quan của số liệu và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của khóa luận.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường và nước thải; liệt kê chi tiết danh mục văn bản luật, nghị định, thông tư, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tiêu chuẩn thiết kế y tế. Trình bày nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện (khám chữa bệnh, sinh hoạt, nước mưa chảy tràn) và thống kê định mức phát thải theo quy mô giường bệnh:

Quy mô giường bệnh Lượng nước sử dụng (lít/người/ngày) Lượng nước thải phát sinh (m³/ngày)
Dưới 100 giường 700 70
200 - 300 giường 700 100 - 200
300 - 500 giường 600 200 - 300
500 - 700 giường 600 300 - 450
Trên 700 giường 600 Trên 500

Chương này cũng tổng hợp bảng thông số ô nhiễm nước thải bệnh viện đầu vào (pH 4–10; COD 512 mg/l; BOD₅ 362 mg/l; SS 150 mg/l; NO₃⁻ 51 mg/l; Phosphate 14 mg/l; Coliform 10⁶ MPN/100ml) so với QCVN 28:2010/BTNMT (cột B), thành phần nước thải theo chuyên khoa (Đa khoa, Lao, Phụ sản) và tỷ lệ phân lập vi khuẩn gây bệnh (Staphylococcus chiếm 82,54%; Pseudomonas aeruginosa chiếm 14,2%; E. pneumoniae chiếm 12,91%; Citrobacter chiếm 1,93%). Đi sâu phân tích sơ đồ công nghệ, nguyên lý vận hành, ưu và nhược điểm của 6 quy trình xử lý nước thải phổ biến: DEWATS, AAO, MBBR, KUBOTA (Johkasou), Bể lọc sinh học nhỏ giọt và Aerotank truyền thống; đồng thời trích dẫn báo cáo của Bộ Y tế năm 2015 ghi nhận 54,4% bệnh viện trên cả nước có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn.

Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là hiện trạng nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu đặt tại khuôn viên bệnh viện trong thời gian thực tập từ tháng 9/2015 đến tháng 11/2015. Quy định chi tiết các nội dung khảo sát thực địa, phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp, kỹ thuật chọn điểm và thao tác lấy mẫu nước thải tại mương rãnh, hố ga, bể xả cuối cùng và mẫu nước ngầm giếng khoan căng tin. Trình bày phương pháp phân tích hóa lý và vi sinh theo các tiêu chuẩn TCVN 6187-1:1996, SMEWW 9260 B cùng phương pháp tổng hợp, xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê Excel.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu

Trình bày chi tiết dữ liệu thực nghiệm và khảo sát hạ tầng của bệnh viện:

  • Quy mô cơ sở: Khu đất có tổng diện tích 69.125 m² (theo Quyết định số 1415/BYT ngày 26/8/1995), tổng diện tích sàn sử dụng 42.000 m², gồm 15 khối nhà (1 nhà 6 tầng, 1 nhà 3 tầng khoa Nội, 13 nhà 2 tầng) với hơn 40 hạng mục công trình có diện tích xây dựng gần 30.000 m². Quy mô hiện tại 800 giường bệnh, quy hoạch mở rộng 1000 giường; tiếp nhận trên 275.697 lượt khám và 36.558 bệnh nhân điều trị nội trú mỗi năm. Khánh thành Trung tâm Nhi khoa vào ngày 04/10/2015 từ nguồn vốn Dự án Norred (Ngân hàng Thế giới).
  • Cân bằng nước cấp và nước thải: Cấp nước từ nguồn nước máy thành phố và nước giếng khoan căng tin. Tiêu chuẩn dùng nước 1000 lít/giường lưu/ngày (Quyết định số 40/2005/QĐ-BYT). Ở quy mô 1000 giường, tổng lượng nước tiêu thụ tính toán là 1.127,6 m³/ngày đêm (gồm 1000 m³ sinh hoạt - y tế, 73,6 m³ tưới cây cho 24.522 m², 54 m³ cứu hỏa cho 2 đám cháy kéo dài 3 giờ với lưu lượng 2,5 l/s). Nhu cầu nước nóng ở 65°C là 200 m³/ngày đêm (chiếm 20%). Lượng nước thải sinh hoạt - y tế tính toán ở quy mô 800 giường thực tế là 480 m³/ngày đêm (định mức 0,6 m³/giường/ngày đêm); lưu lượng nước mưa chảy tràn tính toán đạt 1,56 m³/s (với cường độ mưa h = 100 mm).
  • Cơ sở hạ tầng thu gom và trạm xử lý:
STT Hạng mục công trình Đơn vị Khối lượng Biện pháp / Công nghệ xử lý
1 Mương rãnh thu gom nước mưa chảy tràn mét 1.155 Mương bê tông hở (kích thước 1.155 x 0,2 x 0,15 m) xả vào cống chung đô thị
2 Đường ống dẫn thoát nước thải mét 1.405 Cống bê tông có nắp đậy, dẫn về trạm xử lý tập trung
3 Bể tự hoại xử lý nước thải sinh hoạt bể 15 Xử lý sơ bộ nước thải vệ sinh trước khi dẫn về trạm tập trung
4 Trạm xử lý nước thải cũ (năm 1997) m³/ngày 300 - 360 Công nghệ sinh - hóa học (Aeroten khuấy cơ học, lắng, khử trùng Javen, hồ 500 m²)
5 Hố ga thu nước mưa hố 9 Lắng cát và cặn bẩn trong nước mưa định kỳ nạo vét
6 Trạm xử lý nước thải mới (AAO) m³/ngày 800 Công nghệ AAO Nhật Bản (vận hành thử nghiệm tháng 8/2013, hoạt động 24/24)
7 Hố ga thu gom nước thải hố 58 Lắng cặn bẩn trên mạng lưới ống trước khi vào trạm xử lý
  • Đánh giá quy trình xử lý chuyên biệt và trạm AAO: Nước thải sinh hoạt qua 15 bể tự hoại; nước thải xét nghiệm xử lý sơ bộ tại lavabo; nước thải xạ trị xử lý tại 3 bể bê tông cốt thép ngầm lưu luân phiên để phân rã bức xạ. Trạm xử lý AAO gồm 08 mô-đun thiết bị composite đặt nổi trên bệ móng bê tông cốt thép tại vị trí hồ điều hòa cũ san lấp, đường ống Inox SUS 304, HDPE, PVC chìm, tự động hóa hoàn toàn. Đánh giá chất lượng nước thải sau xử lý về hóa lý, vi sinh, phân tích nước ngầm căng tin và diễn biến chất lượng nước giai đoạn 2013–2015.

Phần V: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn diện kết quả đánh giá hiện trạng nước thải và hiệu quả vận hành của công nghệ AAO tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Khẳng định hệ thống mới công suất 800 m³/ngày đêm đã khắc phục được tình trạng quá tải của trạm cũ năm 1997, xử lý đạt các tiêu chuẩn xả thải theo quy định hiện hành. Nêu các kiến nghị về duy trì công tác bảo dưỡng, kiểm tra định kỳ các cụm mô-đun AAO, nạo vét 58 hố ga nước thải và 9 hố ga nước mưa, cùng phương án cải tạo tách riêng hoàn toàn hệ thống thoát nước mưa và nước thải tại khu vực hành chính.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả cụ thể phản ánh thực trạng môi trường nước tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên:

  • Xác lập bức tranh định lượng về lưu lượng cấp - thoát nước của bệnh viện: Ở quy mô 800 giường bệnh, lượng nước thải phát sinh thực tế là 480 m³/ngày đêm; khi đạt quy mô ổn định 1000 giường bệnh, lượng nước thải cần thu gom và xử lý là 800 m³/ngày đêm (trên tổng nhu cầu cấp nước sinh hoạt 1000 m³/ngày đêm và 200 m³/ngày đêm lượng nước tiêu hao, thất thoát).
  • Khảo sát và lập danh mục chi tiết hạ tầng mạng lưới kỹ thuật môi trường: Bệnh viện có 1.155 m rãnh hở thoát nước mưa, 1.405 m cống bê tông có nắp đậy dẫn nước thải, 15 bể tự hoại, 58 hố ga nước thải, 9 hố ga lắng cặn nước mưa và 3 bể ngầm bê tông cốt thép lưu giữ nước thải phóng xạ luân phiên.
  • So sánh hiệu quả công nghệ giữa hai thế hệ trạm xử lý:
    • Trạm cũ (1997, công suất 360 m³/ngày đêm, công nghệ sinh - hóa học truyền thống với bể Aeroten làm thoáng bề mặt bằng máy khuấy cơ học) đã bị quá tải, suy giảm công suất sục khí từ năm 2002, khiến các chỉ tiêu BOD₅, COD, NH₄⁺-N, dầu mỡ, Coliform vượt ngưỡng xả thải theo QCVN 28:2010/BTNMT.
    • Trạm mới (được Bộ Y tế phê duyệt trong dự án cải tạo giai đoạn 1, khởi công cuối năm 2012, đưa vào vận hành thử nghiệm tháng 8/2013 với chế độ hoạt động 24/24) áp dụng công nghệ AAO Nhật Bản gồm 08 mô-đun thiết bị hợp khối đặt nổi bằng vật liệu bền trên 20 năm (nhựa composite, HDPE, Inox 304, PVC), công suất thiết kế 800 m³/ngày đêm, xử lý triệt để các chất hữu cơ, nitơ và photpho.

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về mạng lưới hạ tầng thu gom, lưu lượng phát thải và chất lượng nước thải của một bệnh viện đa khoa trung ương tuyến cuối tại vùng trung du miền núi phía Bắc.
  • Đánh giá thực tế tính khả thi và hiệu quả vận hành của công nghệ sinh học AAO hợp khối trong điều kiện mặt bằng hạn chế (lắp đặt trên diện tích hồ điều hòa cũ được san lấp), làm cơ sở kỹ thuật phục vụ công tác quản lý môi trường tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế tồn tại trong thực tế tại cơ sở nghiên cứu:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa và lấy mẫu diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 9/2015 đến tháng 11/2015).
  • Hệ thống thoát nước tại một số khu vực cũ (khối nhà hành chính, khoa khám bệnh) vẫn còn tình trạng dùng chung đường thoát nước thải và nước mưa.
  • Cao độ nền sân bệnh viện thấp hơn mặt đường Lương Ngọc Quyến, dẫn đến nguy cơ ngập úng cục bộ khi xảy ra các trận mưa có cường độ lớn (lưu lượng tính toán 1,56 m³/s).
  • Một số hạng mục xây dựng từ lâu chưa được nâng cấp đồng bộ theo kịp quy mô mở rộng giường bệnh.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục thực hiện chương trình quan trắc định kỳ dài hạn đối với các chỉ tiêu hóa lý và vi sinh của nước thải sau xử lý khi trạm AAO vận hành đủ tải 1000 giường bệnh (đạt công suất 800 m³/ngày đêm).
  • Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật cải tạo, phân tách triệt để mạng lưới thu gom nước mưa và nước thải tại khu vực nhà hành chính và khoa khám bệnh.
  • Nghiên cứu bổ sung phương án tái sử dụng nguồn nước thải sau xử lý đạt chuẩn (như tưới cây cho diện tích 24.522 m² khuôn viên bệnh viện) nhằm tiết kiệm nguồn tài nguyên nước sạch.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường và Y tế Công cộng cần tài liệu nghiên cứu thực tế về công tác quản lý chất thải lỏng bệnh viện.
  • Cán bộ quản lý môi trường, kỹ sư vận hành trạm xử lý nước thải tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và tuyến trung ương.
  • Người làm đề tài nghiên cứu liên quan đến việc lựa chọn công nghệ xử lý nước thải y tế (so sánh giữa các phương pháp AAO, MBBR, DEWATS, Johkasou, Aerotank).

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao trong văn bản:

  • Bảng tổng hợp định mức phát thải nước thải theo quy mô giường bệnh và các chỉ tiêu ô nhiễm đặc trưng của nước thải y tế.
  • Bảng tỷ lệ phân lập các chủng vi sinh vật gây bệnh trong nước thải bệnh viện (Staphylococcus, Pseudomonas aeruginosa, E. pneumoniae, Citrobacter).
  • Phương pháp tính toán cân bằng nước cấp - nước thải (nước sinh hoạt, khám chữa bệnh, nước nóng 65°C, nước tưới cây, nước cứu hỏa) cho bệnh viện quy mô 800–1000 giường.
  • Quy trình lấy mẫu, bảo quản và phân tích nước thải, nước ngầm theo hệ thống tiêu chuẩn TCVN và SMEWW.

Câu hỏi thường gặp

1. Lượng nước thải phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên được tính toán dựa trên cơ sở nào? Lượng nước thải phát sinh được tính toán dựa trên lượng nước cấp sử dụng hàng ngày theo tiêu chuẩn 1000 lít/giường lưu/ngày (Quyết định số 40/2005/QĐ-BYT). Với quy mô hiện tại 800 giường bệnh, định mức nước thải phát sinh là 0,6 m³/ngày đêm/giường, tương ứng tổng lượng nước thải phát sinh thực tế là 480 m³/ngày đêm. Khi bệnh viện mở rộng và hoạt động ổn định ở quy mô 1000 giường bệnh, lượng nước thải cần xử lý tính toán là 800 m³/ngày đêm (sau khi trừ 200 m³/ngày đêm lượng nước tiêu hao, thất thoát trong chữa bệnh và sinh hoạt).

2. Hệ thống xử lý nước thải công nghệ AAO mới của bệnh viện có quy mô và đặc điểm kỹ thuật như thế nào? Hệ thống xử lý nước thải công nghệ AAO (Yếm khí - Thiếu khí - Hiếu khí) của Nhật Bản có công suất thiết kế 800 m³/ngày đêm, được xây dựng từ cuối năm 2012 và đưa vào vận hành thử nghiệm từ tháng 8/2013 với thời gian hoạt động 24/24. Hệ thống gồm 08 mô-đun thiết bị đặt nổi trên móng đỡ bê tông cốt thép tại khu vực hồ điều hòa cũ đã san lấp; sử dụng vật liệu chống ăn mòn có độ bền trên 20 năm (nhựa composite, HDPE, Inox SUS 304, PVC); toàn bộ hệ thống đường ống và cấp điện đi chìm, tủ điều khiển tự động hóa đặt trong nhà điều hành.

3. Bệnh viện xử lý sơ bộ các dòng nước thải đặc thù (xạ trị, xét nghiệm, sinh hoạt) bằng biện pháp nào trước khi đưa vào trạm tập trung?

  • Nước thải sinh hoạt: Được xử lý sơ bộ qua 15 bể tự hoại trước khi dẫn vào hệ thống thu gom chung.
  • Nước thải phòng xét nghiệm: Được xử lý sơ bộ trực tiếp tại các lavabo xét nghiệm và đề xuất trang bị bể điều tiết pH trước khi hòa vào hệ thống chung.
  • Nước thải khu xạ trị: Được thu gom riêng và dẫn vào 3 bể xử lý bằng bê tông cốt thép đặt ngầm tại khu xạ trị, hoạt động luân phiên nhằm đảm bảo thời gian lưu cần thiết cho các đồng vị phóng xạ phân rã hoàn toàn trước khi xả ra ngoài.

4. Mạng lưới hạ tầng thu gom nước thải và nước mưa của bệnh viện gồm những hạng mục nào? Theo thống kê kỹ thuật năm 2014 của bệnh viện, mạng lưới hạ tầng gồm: 1.155 m mương rãnh bê tông hở thu gom nước mưa chảy tràn; 1.405 m đường ống bê tông có nắp đậy thu gom nước thải; 15 bể tự hoại; 58 hố ga thu nước thải (có chức năng lắng cặn bẩn trước khi vào trạm); 9 hố ga lắng cặn trên tuyến thoát nước mưa; và 2 trạm xử lý nước thải (trạm cũ công suất 300–360 m³/ngày đêm và trạm mới AAO công suất 800 m³/ngày đêm).

5. Vì sao trạm xử lý nước thải cũ xây dựng năm 1997 của bệnh viện không còn đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường? Trạm xử lý cũ công suất 360 m³/ngày đêm xây dựng từ năm 1997 theo công nghệ sinh - hóa học (bể Aeroten làm thoáng bề mặt bằng máy khuấy cơ học, lắng, khử trùng Javen và hồ sinh học 500 m²). Từ năm 2002, hệ thống sục khí cơ học bị hư hỏng, cộng với lưu lượng nước thải phát sinh gia tăng vượt quá công suất thiết kế, dẫn đến tình trạng quá tải nghiêm trọng. Kết quả quan trắc của cơ quan chuyên môn cho thấy các chỉ tiêu BOD₅, COD, NH₄⁺-N, dầu mỡ và Coliform trong nước thải sau xử lý đều vượt ngưỡng giới hạn của quy chuẩn môi trường.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Hà Thị Lâm Mỹ đã phản ánh trung thực, có căn cứ khoa học và số liệu thực tế về thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý nước thải tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về các thông số kỹ thuật cân bằng nước, hiện trạng cơ sở hạ tầng 15 khối nhà, 15 bể tự hoại, mạng lưới cống dẫn và trạm xử lý nước thải công nghệ AAO công suất 800 m³/ngày đêm. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính ưu việt của công nghệ sinh học AAO trong việc khắc phục tình trạng quá tải của hệ thống cũ năm 1997, đáp ứng các yêu cầu quy chuẩn về nước thải y tế và bảo vệ môi trường sinh thái địa phương.