Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường là những yếu tố nền tảng quyết định chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng. Theo báo cáo điều tra thực trạng vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân nông thôn Việt Nam của Bộ Y tế phối hợp với UNICEF, tỷ lệ tiếp cận nước máy tại nông thôn còn rất hạn chế: chỉ có 11,7% dân cư nông thôn, 7,8% khu chợ, 14,2% trạm y tế xã, 16,1% Ủy ban nhân dân xã và 36,4% trường học được sử dụng nguồn nước máy dẫn qua mạng đường ống đã qua xử lý. Tình trạng thiếu nước sạch và ô nhiễm môi trường là nguyên nhân trực tiếp làm bùng phát các bệnh dịch truyền nhiễm qua đường tiêu hóa như tả, lỵ, tiêu chảy cấp, cùng các bệnh ngoài da và phụ khoa. Việc giải quyết tốt vấn đề nước sinh hoạt có thể giúp kiểm soát đến 80% các bệnh có thể phòng ngừa được.

Tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình – một xã vùng cao có địa hình phức tạp, đồi núi chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối và các dãy núi dốc – việc đảm bảo nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho người dân gặp nhiều khó khăn. Hệ thống công trình cấp nước sinh hoạt tập trung từng được đầu tư trước đây nhưng hoạt động không ổn định do nguồn nước tự nhiên bị suy giảm, đặc biệt trong mùa khô hạn. Bên cạnh đó, việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp (chủ yếu là trồng ngô và dong riềng), kết hợp với nước thải và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý bài bản, đang tạo ra những sức ép đáng kể đối với chất lượng nước mặt và nước dưới đất. Trong bối cảnh đó, đề tài "Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình" được thực hiện nhằm cung cấp bức tranh toàn diện và dữ liệu thực tế phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp bảo vệ, xử lý nguồn nước sinh hoạt của người dân.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tìm hiểu các nguồn cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn.
    • Đánh giá chất lượng môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
    • Tìm hiểu các phương pháp xử lý nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn xã Cao Sơn.
    • Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt và nâng cao năng lực quản lý tài nguyên nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nước sinh hoạt tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Cao Sơn (tổng diện tích tự nhiên 5.041,19 ha gồm 9 xóm dân cư), trong đó tập trung điều tra xã hội học ngẫu nhiên 50 hộ dân và lấy mẫu kiểm nghiệm thực tế chuyên sâu tại 2 địa bàn đại diện là xóm Sèo và xóm Lanh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thực hiện từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/04/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở pháp lý được tác giả vận dụng gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014;
  • Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 12/06/2012;
  • Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 201/2013/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước), Nghị định số 19/2015/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường), Nghị định số 82/2017/NĐ-CP (quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước);
  • Các Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT (quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước), Thông tư số 75/2017/TT-BTNMT (quy định bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động khoan, đào, thăm dò, khai thác);
  • Hệ thống quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật: QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt - căn cứ đối chiếu chính), QCVN 01:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống), QCVN 08:2015/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 09:2015/BTNMT (chất lượng nước ngầm); cùng các tiêu chuẩn lấy mẫu TCVN 5992:1995, TCVN 5993:1995 và TCVN 6000:1995.

Về mặt lý luận, khóa luận hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành về môi trường, ô nhiễm nước, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước. Tác giả phân tích cụ thể ba nhóm tác nhân gây ô nhiễm: tác nhân vật lý (chất rắn không tan, độ đục, màu sắc, mùi vị), tác nhân hóa học (kim loại nặng như Hg, Cd, Pb, As, Cu, Zn, Mn, Fe; các gốc anion NO3-, PO43-, SO42-; hóa chất bảo vệ thực vật; hydrocacbon và chất tẩy rửa), và tác nhân sinh học (chỉ số vi sinh vật đường ruột Coliform, E. coli từ phân thải và mầm bệnh từ rác thải sinh hoạt).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm được kết hợp đồng bộ:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu khí tượng, thủy văn, địa hình, tình hình kinh tế - xã hội và quy hoạch sử dụng đất từ UBND xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc và các nghiên cứu về tài nguyên nước tỉnh Hòa Bình.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi được thiết kế gồm 2 phần (thông tin người phỏng vấn và hiện trạng khai thác, sử dụng, cảm quan chất lượng nước) với dung lượng 50 hộ gia đình phân bổ ngẫu nhiên trên địa bàn xã.
  • Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu: Tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật TCVN 6000:1995. Tác giả tiến hành lấy 6 mẫu nước đại diện cho 3 nguồn cấp nước chính tại 2 khu vực đặc trưng:
    • Mẫu 1: Nước khe suối tại xóm Sèo;
    • Mẫu 2: Nước giếng đào tại xóm Sèo (gia đình anh Xa Kỳ Trường);
    • Mẫu 3: Nước giếng khoan tại xóm Sèo;
    • Mẫu 4: Nước giếng đào tại xóm Lanh (gia đình ông Bùi Văn Trường);
    • Mẫu 5: Nước giếng khoan tại xóm Lanh;
    • Mẫu 6: Nước khe suối tại xóm Lanh.
  • Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Mẫu nước được phân tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các thông số pH, DO và độ đục được đo bằng máy đo đa chỉ tiêu; độ cứng tổng số phân tích theo TCVN 6224:1996; sắt tổng số (Fe) phân tích theo TCVN 6177:1996; nitrat (NO3-) xác định bằng phương pháp trắc phổ dùng axit sunfosalixylic; clorua (Cl-) xác định bằng phương pháp chuẩn độ bạc nitrat (AgNO3).
  • Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu: Xử lý thống kê mô tả số liệu điều tra bằng phần mềm Word và Excel, so sánh đối chiếu trực tiếp các thông số thí nghiệm với giới hạn cho phép của QCVN 02:2009/BYT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với sự sống và sự phát triển kinh tế - xã hội, đặt trong tương quan với thực trạng thiếu hụt nước sạch tại các vùng nông thôn Việt Nam. Bằng việc dẫn chứng các số liệu của Bộ Y tế và UNICEF về tỷ lệ tiếp cận nước máy thấp cũng như gánh nặng dịch bệnh đường tiêu hóa, phần mở đầu khẳng định tính cấp thiết của việc nghiên cứu tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc. Tác giả xác lập rõ ràng hệ thống mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, cùng ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn nhằm cảnh báo nguy cơ ô nhiễm và cung cấp cơ sở dữ liệu cho chính quyền cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các cơ sở pháp lý và lý luận liên quan đến quản lý, bảo vệ tài nguyên nước. Tác giả phân tích sâu cơ chế tác động của các nguồn thải sinh hoạt (chứa 58% chất hữu cơ, 42% chất vô cơ và vi sinh vật gây bệnh), nước thải nông nghiệp (dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tiêu có độ mặn tăng từ 3 đến 10 lần) và chất thải động vật. Đồng thời, phần tổng quan cung cấp bức tranh số liệu về tài nguyên nước thế giới, tình hình khai thác nước tại Việt Nam (lượng dòng chảy hàng năm khoảng 313 km3 nội địa và 900 km3 đổ ra biển, nhưng tỷ lệ khai thác mới đạt khoảng 3%), cùng đặc thù thủy văn tỉnh Hòa Bình với dòng chảy bình quân 500 m3/người và tiềm năng nước dưới đất 790.776 m3/ngày.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết phương pháp luận của đề tài. Tác giả cụ thể hóa đối tượng nghiên cứu là chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, phạm vi nghiên cứu từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2018. Nội dung nghiên cứu được phân định thành 4 hợp phần: điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; đánh giá chất lượng nước sinh hoạt; khảo sát ý kiến người dân; và đề xuất giải pháp. Các quy trình kỹ thuật lấy mẫu (6 vị trí), quy cách bảo quản theo TCVN 6000:1995, cùng các phương pháp phân tích phòng thí nghiệm cho 7 chỉ tiêu hóa - lý (pH, DO, độ đục, độ cứng, Fe, NO3-, Cl-) được thiết lập rõ ràng và chuẩn hóa.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các dữ liệu thu thập được tại xã Cao Sơn:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Cao Sơn có tổng diện tích tự nhiên 5.041,19 ha, chia làm 9 xóm, địa hình dốc bình quân 30 độ, khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình 1.800 - 2.500 mm/năm. Địa bàn không có cơ sở công nghiệp lớn; hoạt động sản xuất chủ yếu là trồng trọt (lúa nước 146 ha, ngô 860 ha, dong riềng 320 ha đạt sản lượng 12.800 tấn với giá trị 24 tỷ đồng) và trên 20 cơ sở tiểu thủ công nghiệp (doanh thu ước đạt 15 tỷ đồng).
  • Hiện trạng sử dụng và khai thác nước sinh hoạt: Toàn xã chưa có mạng lưới cấp nước máy. Khảo sát 50 hộ dân cho thấy: 80% hộ (40 hộ) khai thác nước ngầm qua giếng khoan (sâu 5 - 40m, dùng bơm điện); 10% hộ (5 hộ) dùng nước giếng đào (sâu 10 - 20m); 10% hộ (5 hộ) sử dụng nước tự chảy từ khe suối; không còn hộ nào dùng nước mưa hoặc nước ao (0%). Giếng khoan được người dân ưa chuộng do lưu lượng và độ sạch tương đối ổn định.
  • Hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt qua phân tích: Cả 6 mẫu nước tại xóm Sèo và xóm Lanh đều có các chỉ tiêu lý - hóa nằm trong ngưỡng an toàn theo QCVN 02:2009/BYT:
    • Nước khe suối: Độ đục bằng 0 NTU; hàm lượng DO cao (6,10 - 6,13 mg/l); độ cứng thấp (34 - 48 mg CaCO3/l); Fe từ 0,32 - 0,37 mg/l; NO3- từ 0,05 - 0,10 mg/l; Cl- từ 60,98 - 65,98 mg/l.
    • Nước giếng đào: pH dao động 6,62 - 6,64; DO đạt 5,90 - 6,76 mg/l; độ đục từ 0,82 - 0,90 NTU; độ cứng 66 mg CaCO3/l; Fe từ 0,37 - 0,40 mg/l; NO3- đạt 0,41 mg/l; Cl- từ 20,99 - 24,99 mg/l.
    • Nước giếng khoan: pH từ 6,50 - 6,71; DO đạt 5,62 - 6,50 mg/l; độ đục từ 0,64 - 0,96 NTU; độ cứng từ 40 - 66 mg CaCO3/l; Fe đạt 0,37 - 0,40 mg/l; NO3- từ 0,04 - 0,07 mg/l; Cl- từ 25,99 - 59,98 mg/l.
  • Đánh giá cảm quan của cộng đồng: 100% người dân xác nhận nước không có vị lạ; 94% đánh giá không có mùi lạ (6% thấy có mùi tanh); 98% đánh giá màu sắc bình thường (2% thấy có màu đục). Các ý kiến phản ánh mùi tanh và màu đục tập trung vào mùa mưa lũ do đất cát bị xáo động và chảy tràn. Đáng chú ý, 100% hộ dân được khảo sát chưa từng lắp đặt thiết bị lọc nước gia đình.
  • Đề xuất giải pháp: Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện bao gồm: quản lý nhà nước (tăng cường giám sát chăn nuôi, đào tạo cán bộ môi trường cấp xã, bổ sung biên chế quản lý môi trường xóm, áp dụng chế tài xử phạt, hỗ trợ hộ nghèo); công nghệ - kỹ thuật (khuyến khích lắp đặt bể lọc cát và thiết bị lọc hộ gia đình, định kỳ nạo vét giếng 2 - 3 năm/lần, đảm bảo khoảng cách giếng cách chuồng trại tối thiểu 10m); kinh tế và tuyên truyền giáo dục cộng đồng.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Khóa luận tổng kết ngắn gọn hiện trạng nguồn nước xã Cao Sơn đáp ứng yêu cầu chất lượng sinh hoạt tại thời điểm khảo sát nhưng tiềm ẩn rủi ro ô nhiễm vào mùa mưa lũ. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương sớm triển khai quy hoạch cấp nước tập trung và đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ nguồn nước ngầm.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại hệ thống kết quả định lượng cụ thể về cơ cấu sử dụng và chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Cao Sơn, được tổng hợp đối chiếu với quy chuẩn tại bảng dưới đây:

STT Thông số phân tích Đơn vị tính Ngưỡng cho phép QCVN 02:2009/BYT Khe suối xóm Sèo Khe suối xóm Lanh Giếng đào xóm Sèo Giếng đào xóm Lanh Giếng khoan xóm Sèo Giếng khoan xóm Lanh
1 pH - 6,0 - 8,5 6,50 6,52 6,62 6,64 6,50 6,71
2 DO mg/l - 6,13 6,10 6,76 5,90 6,50 5,62
3 Độ đục NTU 5 0,00 0,00 0,82 0,90 0,64 0,96
4 Độ cứng mg CaCO3/l 350 48,00 34,00 66,00 66,00 40,00 66,00
5 Hàm lượng Sắt (Fe) mg/l 0,5 0,32 0,37 0,40 0,37 0,40 0,37
6 Nitrat (NO3-) mg/l - 0,05 0,10 0,41 0,41 0,04 0,07
7 Clorua (Cl-) mg/l 300 60,98 65,98 20,99 24,99 59,98 25,99

Về tập quán khai thác, nghiên cứu xác định sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu cấp nước tại xã Cao Sơn: giếng khoan trở thành nguồn cung cấp chủ đạo với 80% số hộ lựa chọn, giếng đào và nước khe suối tự chảy đều chiếm 10%, trong khi nước mưa và nước ao không còn được sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Đánh giá cảm quan cho thấy tỷ lệ hài lòng cao (100% không phát hiện vị lạ, 94% không có mùi lạ, 98% không có màu lạ), hiện tượng đục và tanh chỉ mang tính cục bộ vào mùa mưa lũ.

Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất bám sát điều kiện thực tế của địa phương:

  • Về quản lý: Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc xử lý chất thải tại các cơ sở chăn nuôi và chế biến nông sản; bổ sung cán bộ có chuyên môn môi trường cho cấp xã, xóm; tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật quản lý, vận hành và sửa chữa công trình cấp nước nông thôn; thực hiện chính sách hỗ trợ chi phí cho hộ nghèo và gia đình chính sách tiếp cận nguồn nước sạch.
  • Về công nghệ và kỹ thuật: Hướng dẫn người dân áp dụng các biện pháp tiền xử lý nước đơn giản trước khi ăn uống, sinh hoạt; khuyến khích đầu tư thiết bị lọc nước hộ gia đình; định kỳ 2 - 3 năm/lần tiến hành nạo vét và bổ sung cát lọc đáy giếng đào; tuân thủ nghiêm ngặt khoảng cách an toàn tối thiểu 10m giữa vị trí giếng và nguồn gây ô nhiễm (nhà vệ sinh, chuồng trại gia súc).
  • Về kinh tế và xã hội: Đẩy mạnh xã hội hóa công tác cấp nước sạch, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và tuyên truyền hạn chế lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trên các nương ngô, dong riềng.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bộ dẫn liệu thực tế đầu tiên về chất lượng lý - hóa của 3 loại hình nguồn nước sinh hoạt tại xã Cao Sơn, làm sáng tỏ tình trạng thiếu hụt công nghệ lọc xử lý nước hộ gia đình tại địa bàn, qua đó tạo cơ sở khoa học trực tiếp cho chính quyền xã trong công tác quy hoạch mạng lưới cấp nước sạch nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu được tác giả trình bày:

  • Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2018), tập trung hoàn toàn vào mùa khô; do đó chưa ghi nhận và phân tích được sự biến động chất lượng nước trong mùa mưa lũ – thời điểm người dân phản ánh nước thường xuất hiện mùi tanh và độ đục tăng cao.
  • Dung lượng mẫu khảo sát xã hội học dừng lại ở mức 50 hộ gia đình, chưa bao quát được toàn diện sự khác biệt chi tiết giữa toàn bộ 9 xóm trên địa bàn xã.
  • Số lượng mẫu phân tích thực nghiệm trong phòng thí nghiệm còn hạn chế (6 mẫu nước) và chỉ lấy tập trung tại 2 xóm (xóm Sèo và xóm Lanh).
  • Danh mục chỉ tiêu phân tích chỉ dừng lại ở 7 thông số lý - hóa cơ bản; chưa tiến hành kiểm nghiệm các chỉ tiêu vi sinh vật quan trọng (Coliform, E. coli) cũng như dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, dù tổng quan lý thuyết đã chỉ ra đây là nguy cơ ô nhiễm tiềm tàng từ hoạt động canh tác nông nghiệp và chất thải sinh hoạt.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:

  • Tiến hành quan trắc bổ sung theo mùa (đặc biệt vào giai đoạn mưa lũ từ tháng 5 đến tháng 10) để theo dõi động thái biến đổi chất lượng nguồn nước ngầm và nước mặt.
  • Mở rộng phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên diện rộng tại tất cả các xóm để có đánh giá toàn diện, chính xác hơn về mức độ an toàn vệ sinh của nước sinh hoạt theo QCVN 01:2009/BYT và QCVN 02:2009/BYT.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, hoặc Kỹ thuật Môi trường đang thực hiện các đề tài đánh giá chất lượng nước sinh hoạt nông thôn miền núi.

Tài liệu cung cấp quy trình mẫu về việc kết hợp giữa phương pháp điều tra xã hội học (khảo sát bảng hỏi hộ gia đình) với phương pháp phân tích thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. Đồng thời, số liệu điều tra kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên và kết quả thử nghiệm 7 thông số nước là nguồn dữ liệu tham chiếu giá trị cho chính quyền xã Cao Sơn và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đà Bắc trong việc xây dựng kế hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu sử dụng các nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Cao Sơn như thế nào?
Theo kết quả điều tra 50 hộ gia đình trên địa bàn xã, nguồn nước giếng khoan chiếm tỷ lệ áp đảo với 80% (40 hộ). Nước giếng đào chiếm 10% (5 hộ) và nước khe suối tự chảy chiếm 10% (5 hộ). Hiện tại không còn hộ dân nào sử dụng nước mưa hay nước ao hồ cho sinh hoạt, và trên địa bàn xã chưa có hệ thống cấp nước máy tập trung.

2. Đề tài đã lấy bao nhiêu mẫu nước và phân tích tại địa điểm nào?
Tác giả đã thu thập tổng cộng 6 mẫu nước (gồm 2 mẫu nước khe suối, 2 mẫu nước giếng đào và 2 mẫu nước giếng khoan) tại 2 địa bàn đại diện là xóm Sèo (khu dân cư ven tỉnh lộ 433) và xóm Lanh (khu vực ven hồ sông Đà). Toàn bộ 6 mẫu được phân tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

3. Các chỉ tiêu lý - hóa của nước sinh hoạt tại xã Cao Sơn có đạt chuẩn theo quy định không?
Toàn bộ 7 chỉ tiêu phân tích gồm pH (6,50 - 6,71), DO (5,62 - 6,76 mg/l), độ đục (0,00 - 0,96 NTU), độ cứng (34,00 - 66,00 mg CaCO3/l), sắt tổng số (0,32 - 0,40 mg/l), nitrat (0,04 - 0,41 mg/l) và clorua (20,99 - 65,98 mg/l) ở cả 6 mẫu nước đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 02:2009/BYT.

4. Người dân địa phương đánh giá như thế nào về chất lượng cảm quan của nguồn nước?
Khảo sát 50 hộ dân ghi nhận: 100% hộ đánh giá nước không có vị lạ; 94% hộ nhận định nước không có mùi lạ (6% phản ánh có mùi tanh); 98% hộ đánh giá màu sắc bình thường (2% phản ánh có màu đục). Đáng lưu ý, các hiện tượng mùi tanh và màu đục chỉ phát sinh cục bộ vào mùa mưa lũ do hiện tượng rửa trôi bề mặt.

5. Thực trạng trang bị hệ thống xử lý nước tại các hộ gia đình ở xã Cao Sơn ra sao?
Tại thời điểm khảo sát năm 2018, trên địa bàn xã Cao Sơn chưa có bất kỳ hộ gia đình nào lắp đặt và sử dụng các thiết bị lọc nước chuyên dụng; người dân chủ yếu khai thác và sử dụng trực tiếp nguồn nước bơm từ giếng khoan, múc từ giếng đào hoặc dẫn tự chảy từ các khe suối tự nhiên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Sơn Tùng đã làm rõ hiện trạng khai thác và chất lượng nước sinh hoạt tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình với nguồn cấp chủ lực là nước giếng khoan (chiếm 80% số hộ khảo sát). Kết quả kiểm nghiệm thực nghiệm 6 mẫu nước tại xóm Sèo và xóm Lanh cho thấy 7 chỉ tiêu lý - hóa cơ bản đều đạt tiêu chuẩn an toàn theo QCVN 02:2009/BYT trong mùa khô. Tuy nhiên, nguồn nước vẫn đối mặt với rủi ro ô nhiễm vào mùa mưa lũ cùng nguy cơ rửa trôi từ hóa chất nông nghiệp trong bối cảnh 100% hộ dân chưa có thiết bị lọc nước. Nghiên cứu đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về quản lý nhà nước, kỹ thuật xử lý giếng và tuyên truyền cộng đồng nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên nước sinh hoạt nông thôn tại địa phương.