Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học của tác giả Hoàng Văn Xuân được thực hiện tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa học 2011 – 2015), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dư Ngọc Thành. Đề tài thuộc chuyên ngành Khoa học môi trường, tập trung vào loại hình nghiên cứu thực địa, khảo sát xã hội học kết hợp lấy mẫu phân tích thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ thực trạng khu vực nông thôn Việt Nam – nơi chiếm khoảng 75% dân số và nguồn lực lao động xã hội với hơn 43 triệu hộ nông dân. Quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang tạo áp lực lớn lên hệ sinh thái nông thôn, làm suy giảm chất lượng các thành phần môi trường đất, nước và không khí do việc xả thải bừa bãi, lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Tại tỉnh Cao Bằng, Trùng Khánh là huyện biên giới phía Đông Bắc đang trên đà phát triển kinh tế nhưng đối mặt với nhiều bất cập về hạ tầng kỹ thuật môi trường. Địa bàn nghiên cứu cụ thể là xã Đoài Côn – một xã vùng I nằm ở phía Tây Nam huyện Trùng Khánh. Xã có diện tích tự nhiên 1.847,47 ha, quy mô dân số năm 2014 là 1.809 người với 420 hộ gia đình. Cơ cấu kinh tế mang tính thuần nông sâu sắc: lao động nông nghiệp chiếm 97,7%, lao động tiểu thủ công nghiệp chiếm 0,55%, lao động dịch vụ thương mại và hành chính sự nghiệp chiếm 1,75%. Sự gia tăng hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt trong điều kiện cơ sở hạ tầng thiếu thốn đang gây suy thoái môi trường cục bộ, đặt ra bài toán cấp thiết về phát triển bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
  2. Từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương.

Yêu cầu nghiên cứu gồm 3 điểm:

  1. Phản ánh đúng hiện trạng môi trường tại địa phương nghiên cứu.
  2. Đảm bảo thu thập số liệu trung thực, chính xác.
  3. Các giải pháp đưa ra phải có ý nghĩa thực tiễn và phù hợp với địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề môi trường nông thôn tại xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Đoài Côn, tập trung điều tra tại 8 xóm (Sộc Hoắc, Pò Gài, Nà Quang, Lũng Lo, Pác Thàn, Lũng Luông – Lũng Rỳ, Tắp Ná, Bản Lung).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thực hiện từ ngày 05/01/2015 đến ngày 05/04/2015 (thời điểm lấy mẫu nước phân tích phòng thí nghiệm vào ngày 12/04/2015).
  • Phạm vi nội dung: Hiện trạng môi trường nước sinh hoạt, nước thải, quản lý chất thải rắn, môi trường không khí, môi trường đất, vệ sinh môi trường nông thôn (chuồng trại, nhà tiêu), tình hình sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật, cùng nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành: môi trường, chức năng của môi trường, đặc điểm môi trường nông thôn (gắn với sinh thái nông nghiệp và các yếu tố phát triển nông thôn), ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, tiêu chuẩn môi trường và chuỗi khái niệm về quản lý chất thải rắn (thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, chôn lấp hợp vệ sinh).

Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm kỹ thuật được áp dụng gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (thông qua ngày 23/06/2014);
  • Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13;
  • Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn;
  • Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT quy định tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu;
  • Quyết định số 17/2001/QĐ-BXD về định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường;
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT về áp dụng tiêu chuẩn môi trường;
  • Chỉ thị số 36/2008/CT-BNN về tăng cường bảo vệ môi trường trong nông nghiệp và PTNT; Quy định số 367-BVTV/QĐ về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật;
  • Hệ thống quy chuẩn đối chiếu: QCVN 01:2009/BYT (chất lượng nước ăn uống), QCVN 02:2009/BYT (chất lượng nước sinh hoạt), QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 (chất lượng nước mặt), QCVN 14:2008/BTNMT (nước thải sinh hoạt), QCVN 15:2008/BTNMT (dư lượng hóa chất BVTV trong đất).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm được tác giả triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất của UBND xã Đoài Côn, các số liệu diễn biến môi trường của Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng và Phòng TN&MT huyện Trùng Khánh.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Thu thập 04 mẫu nước vào sáng ngày 12/04/2015 đựng trong bình chứa PE dung tích 1,5 lít, bảo quản nút chặt tránh ánh sáng và nhiệt độ. Vị trí lấy mẫu gồm:
    • Mẫu 1: Nước giếng đào hộ ông Nông Văn Hiếu, xóm Sộc Hoắc.
    • Mẫu 2: Nước khe tại đèo Khau Ren, xóm Bản Lũng.
    • Mẫu 3: Nước suối tại điểm bắt đầu chảy vào địa phận xã Đoài Côn.
    • Mẫu 4: Nước suối tại điểm bắt đầu chảy ra khỏi địa phận xã Đoài Côn. Quy trình lấy mẫu tuân thủ TCVN 5966-1995 (ISO 5667-6:1990) đối với nước suối và TCVN 6000-1995 (ISO 5667-11:1992) đối với nước ngầm, nước khe. Phân tích các thông số: pH, TDS, DO bằng máy đo chất lượng nước đa chỉ tiêu; phân tích độ cứng theo TCVN 6224-1996 (hoặc SMEWW 2340C); phân tích sắt (Fe) tổng số theo TCVN 6177-1996 (ISO 6332-1988 hoặc SMEWW 3500-Fe).
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn gồm 2 phần (thông tin chung và hiện trạng các thành phần môi trường). Khảo sát ngẫu nhiên 50 hộ gia đình thuộc 8 xóm trên toàn xã Đoài Côn.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực quan cảnh quan, địa hình, các bãi đổ rác tự phát, hệ thống mương suối, đồng ruộng và điều kiện vệ sinh khu dân cư.
  • Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Số liệu khảo sát và phân tích được tổng hợp thành bảng thống kê, tính toán tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel và soạn thảo báo cáo trên Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng phần

Khóa luận được kết cấu theo 4 phần chính cùng phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị:

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh môi trường nông thôn chịu nhiều tác động từ phát triển kinh tế; phân tích đặc điểm huyện vùng cao Trùng Khánh và xã Đoài Côn; xác định rõ 2 mục tiêu, 3 yêu cầu nghiên cứu, đồng thời nêu rõ ý nghĩa học tập, nghiên cứu khoa học và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bảo vệ môi trường khu vực miền núi phía Bắc.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về môi trường nông thôn, định nghĩa các dạng ô nhiễm (nước, đất, không khí, tiếng ồn, suy thoái tài nguyên) và khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam. Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp tài liệu về xu thế diễn biến môi trường thế giới (gia tăng dân số, suy thoái tài nguyên đất, đô thị hóa, khủng hoảng lương thực, sa mạc hóa, rác thải rắn). Đánh giá thực trạng môi trường nông thôn Việt Nam thông qua số liệu điều tra toàn quốc của Bộ Y tế và UNICEF (năm 2008), số liệu về tỷ lệ cấp nước sạch theo vùng sinh thái (vùng núi phía Bắc chỉ đạt 15%), tình hình phát sinh chất thải rắn và thực trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (tiêu thụ bình quân 15.000 tấn thuốc/năm, phát sinh 9.000 tấn chất thải nguy hại nông nghiệp). Đồng thời, tác giả khái quát hiện trạng chất thải rắn (phát sinh 55,3 tấn/ngày), tài nguyên nước mặt, đất đai, đa dạng sinh học và kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh Cao Bằng, xác định 4 nhóm vấn đề môi trường cấp bách tại huyện Trùng Khánh.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng, phạm vi không gian (xã Đoài Côn), thời gian thực hiện (05/01/2015 – 05/04/2015). Đặt ra 3 khối nội dung nghiên cứu: nghiên cứu điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường (nước sinh hoạt, nước thải, rác thải rắn, không khí, đất, vệ sinh môi trường, phân bón và thuốc BVTV, nhận thức người dân); đề xuất giải pháp quản lý và kỹ thuật. Quy định chi tiết các bước thu thập tài liệu thứ cấp, kỹ thuật lấy mẫu và bảo quản 04 mẫu nước, phương pháp phân tích phòng thí nghiệm, phương pháp điều tra phỏng vấn 50 hộ gia đình và phương pháp xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, gồm 3 phần chính:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Mô tả vị trí tiếp giáp địa lý của xã Đoài Côn; địa hình đồi núi cao xen kẽ thung lũng phức tạp; khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 19,8°C, độ ẩm 81,5%, lượng bốc hơi 800–850 mm/năm. Thống kê quỹ đất năm 2011 với tổng diện tích 1.847,47 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 93,51% (1.727,63 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 5,42% (100,12 ha), đất rừng sản xuất có 1.328,24 ha (71,89%). Về kinh tế - xã hội: Toàn xã có 1.809 nhân khẩu thuộc 420 hộ; nguồn lao động 916 người (50,64% dân số), lao động nông nghiệp chiếm tuyệt đối 97,7%, tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp (7%). Hạ tầng thiếu thốn, chưa có chợ nông thôn, trạm y tế và bưu điện văn hóa xã xuống cấp.
  • Đánh giá hiện trạng môi trường xã Đoài Côn: Khảo sát chi tiết nguồn nước và phân tích chất lượng nước ngầm, nước mặt; đánh giá tỷ lệ cống thoát nước sinh hoạt; thống kê khối lượng, hình thức đổ rác và xử lý rác thải sinh hoạt, chăn nuôi, trồng trọt; khảo sát hiện trạng môi trường không khí và suy thoái đất canh tác thâm canh; khảo sát công trình nhà vệ sinh, chuồng trại nuôi nhốt gia súc, nguồn tiếp nhận nước thải; khảo sát lượng phân bón, tần suất dùng thuốc BVTV, cách thức tiêu hủy bao bì hóa chất nông nghiệp; đánh giá mức độ nhận thức của người dân về vệ sinh môi trường.
  • Đề xuất giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường: Xây dựng danh mục giải pháp công trình (trạm cấp nước, hố rác sinh hoạt, hố gom bao bì BVTV đồng ruộng, hầm biogas, nhà vệ sinh tự hoại) và giải pháp quản lý - tuyên truyền giáo dục cho cộng đồng địa phương.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và xử lý toàn diện các số liệu định lượng về điều kiện môi trường tại xã Đoài Côn thông qua khảo sát 50 hộ gia đình và thử nghiệm mẫu phòng thí nghiệm:

1. Hiện trạng cấp nước sinh hoạt và thoát nước thải

Người dân xã Đoài Côn sử dụng 4 nguồn nước sinh hoạt chính, trong đó nguồn nước tự khai thác chiếm ưu thế nhưng đa số không qua hệ thống lọc đạt chuẩn:

Nguồn nước sinh hoạt Có lọc (hộ) Tỷ lệ lọc (%) Không lọc (hộ) Tỷ lệ không lọc (%) Tổng số hộ Tổng tỷ lệ (%)
Giếng đào 7 14,0 22 44,0 29 58,0
Nước sạch tập trung 2 4,0 9 18,0 11 22,0
Nước khe 2 4,0 4 8,0 6 12,0
Giếng khoan 3 6,0 1 2,0 4 8,0
Tổng cộng 14 28,0 36 72,0 50 100,0

Về hạ tầng tiêu thoát nước: 56,0% số hộ (28 hộ) hoàn toàn không có cống thải; 28,0% (14 hộ) sử dụng cống thải lộ thiên; chỉ 16,0% (8 hộ) có cống đậy nắp. Toàn xã chưa có cống thoát nước chung, nước thải sinh hoạt được xả thẳng ra vườn, mương, ao quanh nhà. Về nước thải từ chuồng trại và nhà vệ sinh: 76,0% số hộ để tự ngấm xuống đất; 12,0% xả vào bể tự hoại; 6,0% xả trực tiếp ra ao, suối; 6,0% xả ra các vị trí khác.

2. Chất lượng nước phân tích trong phòng thí nghiệm

Kết quả thử nghiệm 04 mẫu nước ngày 12/04/2015 cho thấy tại thời điểm lấy mẫu, các chỉ tiêu lý hóa đều nằm trong giới hạn cho phép:

Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Mẫu 1 (Nước giếng) Mẫu 2 (Nước khe) QCVN 01:2009/BYT Mẫu 3 (Nước suối đầu vào) Mẫu 4 (Nước suối đầu ra) QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2)
pH - 7,0 6,5 6,5 – 8,5 6,64 6,53 5,5 – 9,0
Độ cứng (theo CaCO₃) mg/l 175 125 300 150 160 300
Sắt tổng số (Fe) mg/l 0,003 0,007 0,3 0,01 0,02 0,5 – 1,0
Tổng chất rắn hòa tan (TDS) mg/l 6,7 6,5 - 6,64 7,0 -
Độ dẫn điện (EC) mg/l 5,8 5,5 - 5,58 5,54 -

(Ghi chú: Đơn vị đo TDS và EC được trình bày đúng theo bảng số liệu gốc trong văn bản).

3. Hiện trạng chất thải rắn và xử lý phụ phẩm

Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ước tính <2 kg/hộ/ngày. Địa phương chưa có bãi rác tập trung và dịch vụ thu gom rác. Khảo sát 50 hộ cho thấy: 88,0% số hộ (44 hộ) đổ rác tùy tiện ven đường, bụi rậm, mương suối; chỉ 12,0% số hộ (6 hộ) có hố rác riêng tại gia đình.

Hình thức xử lý Rác sinh hoạt (%) Rác từ chăn nuôi (%) Phế phẩm từ trồng trọt (%)
Đốt 80,0 0,0 64,0
Ủ làm phân bón 0,0 62,0 0,0
Không xử lý chỉ thu gom 16,0 32,0 28,0
Không xử lý và không thu gom 4,0 6,0 8,0
Tổng cộng 100,0 100,0 100,0

4. Vệ sinh môi trường, phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật

  • Công trình vệ sinh: Chỉ 14,0% số hộ (7 hộ) có nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh theo QCVN 01:2011/BYT; 42,0% (21 hộ) dùng hố xí hai ngăn; 42,0% (21 hộ) dùng hố xí đất; 2,0% (1 hộ) không có nhà vệ sinh.
  • Chuồng trại chăn nuôi: 96,0% hộ có chuồng nuôi nhốt, 4,0% chăn thả rông. Về vị trí: 72,0% hộ đặt cả nhà tiêu và chuồng trại tách riêng nhà ở; 20,0% hộ có nhà tiêu tách riêng nhưng chuồng trại liền kề nhà ở; 6,0% hộ có cả hai công trình liền kề nhà ở; 2,0% hộ có chuồng trại tách riêng nhưng nhà tiêu liền kề nhà ở.
  • Phân bón và thuốc BVTV: 76,0% hộ sử dụng phân bón hóa học; 18,0% dùng phân ủ; 8,0% vẫn dùng phân tươi bón trực tiếp cho cây trồng; 4,0% không sử dụng phân bón. Tần suất dùng thuốc BVTV: 26,0% dùng thường xuyên; 58,0% thỉnh thoảng; 16,0% chỉ dùng khi cần thiết.
  • Thải bỏ bao bì thuốc BVTV: 52,0% số hộ vứt bao bì, chai lọ hóa chất ra ao, suối, mương máng; 40,0% vứt ngay tại nơi phun thuốc trên ruộng; 8,0% tự chôn đốt tại vườn nhà; 0% bỏ vào thùng thu gom chung. Có 37,0% số hộ thải bỏ >3 kg bao bì/năm; ước tính toàn xã phát sinh trên 2 tấn bao bì thuốc BVTV mỗi năm thải trực tiếp ra môi trường.

5. Ý kiến đánh giá của người dân về môi trường

Kết quả ghi nhận cảm quan của 50 hộ: Về môi trường đất, 70% nhận xét không ô nhiễm, 26% ô nhiễm ít, 4% ô nhiễm; tuy nhiên 80% hộ khẳng định đất canh tác bị suy giảm độ phì nhiêu và độ xốp sau nhiều năm thâm canh (chiếm 74% diện tích). Về môi trường nước: 42% nhận định không ô nhiễm, 28% ô nhiễm ít, 8% ô nhiễm. Về môi trường không khí: 24% nhận định không ô nhiễm, 40% ô nhiễm ít, 32% đánh giá ô nhiễm (chủ yếu do bụi đường cấp phối liên xã Thông Huề – Đoài Côn – An Lạc và mùi chuồng trại). Về giải pháp cải thiện, 38% người dân cho rằng cần thay đổi nhận thức, 24% đề nghị thu gom chất thải, 18% yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước, 14% kết hợp cả ba yếu tố.

Giải pháp và đóng góp của đề tài

Tác giả đề xuất 5 nhóm biện pháp cụ thể cho xã Đoài Côn:

  • Xây dựng trạm cấp nước ăn uống và sinh hoạt cho người dân đạt tiêu chuẩn vệ sinh;
  • Quy hoạch hố rác tập trung tại các thôn, xây dựng thí điểm mô hình thu gom rác dịch vụ;
  • Xây dựng hệ thống hố rác chuyên dụng chứa bao bì, chai lọ thuốc BVTV trên các cánh đồng nội công;
  • Tuyên truyền, khuyến khích các hộ chăn nuôi quy mô lớn xây hầm biogas để xử lý chất thải và tận dụng chất đốt;
  • Vận động và hỗ trợ các hộ dân cải tạo, xây dựng nhà vệ sinh tự hoại hợp chuẩn, đưa giáo dục vệ sinh môi trường vào học đường và thôn bản.

Đóng góp thực tiễn của đề tài là cung cấp hệ thống số liệu sơ cấp đầu tiên về các thành phần môi trường tại xã Đoài Côn, chỉ rõ những "điểm nghẽn" môi trường của địa phương (vấn đề xả 2 tấn vỏ thuốc BVTV/năm, 88% đổ rác tự do, 76% nước thải ngấm đất) giúp chính quyền địa phương có cơ sở xây dựng đề án bảo vệ môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện của sinh viên:

  • Số lượng mẫu phân tích phòng thí nghiệm còn rất ít: Chỉ lấy được 04 mẫu nước đơn lẻ vào một thời điểm duy nhất (ngày 12/04/2015), chưa có chuỗi quan trắc theo dõi biến động chất lượng nước giữa hai mùa khô và mùa mưa rõ rệt của miền núi phía Bắc.
  • Chỉ tiêu phân tích nước còn hạn chế ở một số thông số lý hóa thông thường (pH, độ cứng, Fe, TDS, EC); thiếu vắng các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật quan trọng (BOD₅, COD, Amoni, Coliform, E.coli) vốn là những tác nhân dễ phát sinh từ nước thải chăn nuôi và nhà vệ sinh.
  • Đánh giá môi trường không khí và môi trường đất hoàn toàn dựa trên phương pháp khảo sát cảm quan thực địa và điều tra xã hội học, chưa tiến hành lấy mẫu phân tích dư lượng hóa chất BVTV trong đất theo QCVN 15:2008/BTNMT hoặc đo đạc nồng độ bụi, khí độc trong không khí.
  • Cỡ mẫu điều tra xã hội học ở mức 50 hộ trên tổng số 420 hộ (tỷ lệ 11,9%), phân bố ở 8 xóm nên mức độ đại diện cho từng cụm dân cư còn khiêm tốn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản:

  • Cần mở rộng mạng lưới lấy mẫu và quan trắc định kỳ chất lượng nước mặt, nước ngầm theo các mùa trong năm;
  • Thực hiện lấy mẫu đất nông nghiệp để phân tích hàm lượng kim loại nặng và dư lượng các nhóm thuốc trừ sâu, trừ cỏ tồn lưu;
  • Nghiên cứu thiết kế kỹ thuật và đánh giá tính khả thi kinh tế của mô hình bể thu gom bao bì thuốc BVTV cánh đồng phù hợp với tập quán canh tác vùng cao Trùng Khánh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Xuân có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Phát triển nông thôn có thể tham khảo phương pháp xây dựng phiếu điều tra xã hội học, cấu trúc bài đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn cấp xã và kỹ thuật xử lý số liệu điều tra thực địa.
  • Cán bộ địa chính - môi trường cấp xã, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trùng Khánh và các huyện miền núi có điều kiện tương đồng có thể sử dụng các số liệu thực tế về lượng bao bì thuốc BVTV, tỷ lệ nhà vệ sinh, chuồng trại để xây dựng kế hoạch quản lý chất thải và tiêu chí số 17 về môi trường trong xây dựng nông thôn mới.
  • Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết từ Bảng 4.4 đến Bảng 4.19, phản ánh chân thực các thói quen xả thải, tập quán chăn nuôi và thâm canh nông nghiệp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của người dân xã Đoài Côn là gì và chất lượng nước có đạt quy chuẩn không?
Nguồn nước sinh hoạt chính của người dân là giếng đào (chiếm 58,0%), tiếp theo là công trình nước sạch tập trung (22,0%), nước khe (12,0%) và giếng khoan (8,0%). Tỷ lệ hộ dùng nước không qua lọc chiếm tới 72,0%. Kết quả phân tích 04 mẫu nước (giếng đào, nước khe, nước suối đầu nguồn và cuối nguồn) vào ngày 12/04/2015 cho thấy các chỉ tiêu pH, độ cứng, Fe, TDS và EC đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT và QCVN 08:2008/BTNMT. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nước sinh hoạt thường diễn ra nghiêm trọng vào mùa khô.

2. Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn tại xã Đoài Côn diễn ra như thế nào?
Xã Đoài Côn chưa có bãi rác tập trung và chưa có dịch vụ thu gom rác thải. Có 88,0% số hộ đổ rác tùy tiện ra ven đường, bụi rậm, mương suối; chỉ 12,0% hộ có hố rác tự đào trong vườn. Về phương thức xử lý: 80,0% hộ đốt rác sinh hoạt; 64,0% đốt phế phẩm trồng trọt tại đồng ruộng; 62,0% hộ ủ rác thải chăn nuôi làm phân bón.

3. Vấn đề sử dụng và tiêu hủy bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại địa phương có nguy cơ gì?
Người dân sử dụng thuốc BVTV phổ biến (26,0% dùng thường xuyên, 58,0% thỉnh thoảng). Khi sử dụng xong, có tới 52,0% số hộ vứt bao bì chai lọ ra ao, suối, kênh mương và 40,0% bỏ ngay tại ruộng; chỉ 8,0% tự chôn đốt. Toàn xã không có bể thu gom rác chung ngoài đồng ruộng. Khối lượng bao bì thuốc BVTV phát sinh ước tính trên 2 tấn/năm, gây nguy cơ ngộ độc, trầy xước nhiễm trùng cho người lao động khi lội ruộng và tích lũy chất độc vào nguồn nước mặt.

4. Tỷ lệ nhà vệ sinh đạt chuẩn và hiện trạng xử lý nước thải chuồng trại tại xã ra sao?
Theo QCVN 01:2011/BYT, xã Đoài Côn chỉ có 14,0% hộ có nhà vệ sinh tự hoại hợp vệ sinh; 42,0% dùng hố xí hai ngăn và 42,0% dùng hố xí đất chưa đảm bảo quy cách kỹ thuật, 2,0% không có nhà tiêu. Có 96,0% hộ có chuồng nuôi nhốt gia súc nhưng 76,0% nước thải từ chuồng trại và nhà vệ sinh để ngấm tự nhiên xuống đất, 12,0% vào bể tự hoại và 6,0% thải thẳng ra ao làng, sông suối.

5. Vì sao người dân đánh giá môi trường không khí bị ô nhiễm cao hơn môi trường đất và nước?
Khảo sát ý kiến cho thấy 32,0% người dân nhận định không khí bị ô nhiễm và 40,0% đánh giá ô nhiễm ít (cao hơn nhiều so với đất 4% và nước 8%). Nguyên nhân chính được tác giả chỉ ra là do tuyến đường liên xã Thông Huề – Đoài Côn – An Lạc thời điểm đó vẫn là đường cấp phối phát sinh bụi lớn khi có phương tiện qua lại, kết hợp với mùi hôi phát tán từ hệ thống chuồng trại gia súc sát nhà ở và các bãi rác tự phát bốc mùi khi thời tiết ẩm ướt.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Xuân đã phản ánh toàn diện bức tranh hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Đoài Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng năm 2015 bằng phương pháp điều tra thực địa kết hợp thử nghiệm mẫu nước. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý: mặc dù các thông số hóa lý nguồn nước tại thời điểm khảo sát vẫn đạt ngưỡng cho phép, môi trường địa phương đang tiềm ẩn nguy cơ suy thoái rất lớn từ việc phát sinh hơn 2 tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật không qua thu gom, 88% hộ vứt rác tùy tiện và 76% nước thải vệ sinh ngấm trực tiếp xuống đất. Các nhóm giải pháp công trình như xây dựng trạm cấp nước, hố rác cánh đồng và hầm biogas do đề tài đề xuất mang tính khả thi cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên và quy hoạch nông thôn mới tại địa phương.