Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội tại khu vực nông thôn Việt Nam đã và đang làm nảy sinh nhiều thách thức về môi trường sinh thái. Tại nhiều địa phương, sức ép từ việc mưu sinh, thói quen canh tác lạm dụng hóa chất nông nghiệp, hoạt động sản xuất thủ công cùng sự hạn chế trong nhận thức bảo vệ môi trường của người dân đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí. Công tác quản lý môi trường nông thôn ở một số khu vực miền núi còn đối mặt với nhiều bất cập do địa hình chia cắt, cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiếu thốn và các nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Thiệp (chuyên ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2018, dưới sự hướng dẫn của TS. Dư Ngọc Thành) được triển khai nhằm khảo sát và phản ánh thực trạng môi trường nông thôn tại một địa bàn miền núi cụ thể: xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Vào thời điểm nghiên cứu, xã Minh Lương đang trong tiến trình xây dựng nông thôn mới nhưng gặp nhiều trở ngại tại Tiêu chí số 17 (Môi trường).
Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể gồm:
- Đánh giá hiện trạng môi trường xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Tìm hiểu nhận thức, hiểu biết của người dân địa phương về vấn đề môi trường.
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Người dân nông thôn và các thành phần môi trường nông thôn tại xã Minh Lương, tập trung vào: nguồn nước sinh hoạt; cơ sở hạ tầng vệ sinh (nhà ở, chuồng trại chăn nuôi, nhà vệ sinh, ao hồ); công tác quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt; các hoạt động nông nghiệp tác động đến môi trường (sử dụng phân bón hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật, vệ sinh dịch tễ).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 22/01/2018 đến ngày 10/05/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về môi trường sinh thái, ô nhiễm môi trường và quản lý nhà nước về môi trường, kết hợp với các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:
- Văn bản pháp lý: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13); Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường; Thông tư số 27/2011/TT-BYT ban hành QCVN 01:2011/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện bảo đảm vệ sinh); Quyết định số 51/2008/QĐ-BNN ban hành bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012–2015; Quyết định số 367-BVTV/QĐ về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam.
- Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối chiếu: QCVN 08-MT:2015/BTNMT (chất lượng nước mặt, cột B1); QCVN 09:2015/BTNMT (chất lượng nước ngầm); QCVN 14:2015/BTNMT (nước thải sinh hoạt); QCVN 15:2015/BTNMT (dư lượng hóa chất BVTV trong đất); QCVN 05:2013/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh); QCVN 26:2010/BTNMT (tiếng ồn); QCVN 54:2013/BTNMT (ngưỡng xử lý hóa chất BVTV hữu cơ khó phân hủy tồn lưu).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tác giả áp dụng gồm:
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tiếp cận và tổng hợp báo cáo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên và số liệu môi trường từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Văn Bàn và UBND xã Minh Lương.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu phỏng vấn: Thiết lập bộ câu hỏi cấu trúc (gồm câu hỏi đóng và mở) để điều tra trực tiếp 50 hộ gia đình tại 9 thôn bản trên địa bàn xã, mỗi thôn lựa chọn ngẫu nhiên từ 4 đến 5 hộ.
- Phương pháp quan sát trực tiếp: Đánh giá cảm quan và ghi nhận hiện trạng hệ thống thoát nước thải, các bãi rác tự phát, chuồng trại gia súc, khoảng cách giữa công trình vệ sinh/chuồng nuôi tới nguồn nước ăn uống.
- Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Lấy 02 mẫu nước mặt đại diện vào ngày 08/05/2018, gồm 01 mẫu nước ao tại thôn 2 Minh Hạ và 01 mẫu nước suối đoạn chảy qua khu vực trung tâm xã Minh Lương. Các mẫu được chuyển về phân tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường (tầng 1) – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo các tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế: pH (TCVN 6492:2011 / ISO 10523:2008), COD (TCVN 6491:1999 / ISO 6060:1989; SMEWW 5220.B:2012), BOD5, Nitrat - NO3- (TCVN 6180:1996 / ISO 7890-3:1988), Phosphat - PO43- (TCVN 6202:2008 / ISO 6878:2004; SMEWW-4500-P.E:2012), độ đục. Quy trình lấy mẫu tuân thủ TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2003, TCVN 5994:1995 và TCVN 6663-6:2008.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình chuyển đổi kinh tế nông thôn gắn với yêu cầu phát triển bền vững. Tác giả chỉ ra các nguồn ô nhiễm nông thôn cơ bản như việc lạm dụng hóa chất nông nghiệp, nước thải và chất thải sinh hoạt chưa được xử lý, nhận thức cộng đồng còn thấp và sự đầu tư chưa đồng bộ của các cấp quản lý. Bên cạnh việc xác lập mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đề ra 4 yêu cầu mang tính phương pháp: đối tượng phỏng vấn phải đại diện cho các tầng lớp, lứa tuổi và ngành nghề; số liệu thu thập khách quan, trung thực; phiếu điều tra rõ ràng; các kiến nghị đưa ra phải sát với thực tế địa phương. Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của đề tài được định vị qua việc bổ sung số liệu đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn xã Minh Lương và phục vụ công tác quy hoạch, quản lý tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa chuẩn tắc về môi trường, chức năng của môi trường sinh thái (không gian sống, cung cấp tài nguyên, chứa đựng chất thải, giảm nhẹ tác động thiên tai, lưu trữ và cung cấp thông tin), khái niệm ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí, tiếng ồn) và quản lý môi trường theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 và các giáo trình chuyên ngành (Lê Văn Khoa và cộng sự, Lê Thạc Cán và cộng sự).
Chương này khái quát các xu thế diễn biến môi trường toàn cầu: khủng hoảng thiếu nước ngọt (dẫn báo cáo Liên Hợp Quốc về nguy cơ thiếu hụt 40% nhu cầu nước vào năm 2030); bất bình đẳng trong phân phối thu nhập gây áp lực lên tài nguyên; xu thế gia tăng sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật tại châu Á - Thái Bình Dương; sự gia tăng khối lượng chất thải rắn (0,4 - 1,5 kg/người/ngày); áp lực đô thị hóa và gia tăng dân số thế giới (đạt 7,2 tỷ người năm 2013 và các dự báo đến năm 2050, 2100).
Ở phạm vi quốc gia, tác giả tổng hợp các vấn đề môi trường nông thôn: ô nhiễm rác thải, nhà tiêu không hợp vệ sinh; chất lượng nước sinh hoạt nông thôn; mức độ ô nhiễm bụi và khí NO tại các trục giao thông nông thôn và công trường theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2013; ô nhiễm đất với dẫn chứng từ Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường (khu vực nông thôn thải ra 13 triệu tấn rác sinh hoạt, 1.300 triệu m³ nước thải sinh hoạt, 7.500 tấn vỏ bao thuốc BVTV mỗi năm với khoảng 80% chưa được xử lý hợp vệ sinh; 335 điểm tồn lưu thuốc BVTV; sử dụng 2,5 - 3 triệu tấn phân bón vô cơ/năm). Đồng thời, tài liệu phân tích hiện trạng môi trường tỉnh Lào Cai: đánh giá tổng thể giai đoạn 2011–2015; các áp lực môi trường công nghiệp tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng (21 dự án phân bón, hóa chất, luyện kim); KCN Đông Phố Mới; vấn đề nước ô nhiễm hữu cơ và chất lượng nước xuyên biên giới trên sông Hồng, sông Chảy bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết phương pháp luận của đề tài. Tác giả xác định rõ các nội dung công việc triển khai tại thực địa huyện Văn Bàn và xã Minh Lương từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018, bao gồm:
- Khảo sát các điều kiện tự nhiên, quỹ đất, cơ cấu kinh tế, dân số và dân tộc của xã Minh Lương.
- Đánh giá hiện trạng 6 thành phần môi trường nông thôn: nước sinh hoạt; nước thải và cống rãnh; rác thải sinh hoạt; môi trường không khí; chất thải chăn nuôi; sử dụng hóa chất BVTV và phân bón.
- Phân tích chi tiết quy trình lấy mẫu nước mặt (01 mẫu nước ao tại thôn Minh Hạ 2 và 01 mẫu nước suối trung tâm xã) ngày 08/05/2018, thiết bị bảo quản chai lọ, phương pháp thử nghiệm các chỉ số hóa lý (pH, COD, BOD5, Nitrat, Phosphat, độ đục) tại phòng thí nghiệm chuyên ngành và phương pháp đối chiếu với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1).
- Thiết kế phiếu khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên 50 hộ gia đình đại diện tại 9/11 thôn bản của xã.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả trình bày toàn bộ số liệu điều tra kinh tế - xã hội, kết quả phân tích mẫu nước và khảo sát 50 hộ gia đình tại xã Minh Lương.
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội:
Xã Minh Lương nằm ở phía Tây huyện Văn Bàn, cách trung tâm huyện 30 km; phía Bắc và Tây giáp xã Nậm Xé, phía Nam giáp xã Nậm Xây, phía Đông giáp xã Thẩm Dương.
- Diện tích tự nhiên toàn xã là 3.509,14 ha. Trong đó: đất nông nghiệp là 2.469,90 ha (riêng đất trồng lúa là 334,53 ha); đất phi nông nghiệp là 234,72 ha (đất chuyên dùng 127,89 ha); đất chưa sử dụng là 805,11 ha.
- Diện tích rừng đạt 1.800,56 ha (gồm 890,31 ha rừng phòng hộ và 910,25 ha rừng sản xuất).
- Mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt 15,55 ha trên hệ thống suối Chăn và các khe Nậm Mu, khe Nậm Liệp.
- Tài nguyên khoáng sản có quặng vàng nằm rải rác tại các thôn 1, 2, 3 Minh Thượng và thôn 1, 2, 3 Minh Hạ.
- Dân số gồm 749 lao động thuộc 3 dân tộc: người Tày chiếm 85%, người Dao chiếm 5%, người Kinh chiếm 10%. Toàn xã chia thành 11 thôn bản: Thôn 1 Minh Thượng (103 hộ), Thôn 2 Minh Thượng (78 hộ), Thôn 3 Minh Thượng (112 hộ), Thôn 1 Minh Hạ (134 hộ), Thôn 2 Minh Hạ (128 hộ), Thôn 3 Minh Hạ (91 hộ), Thôn 1 Minh Chiềng (85 hộ), Thôn 2 Minh Chiềng (90 hộ), Thôn 3 Minh Chiềng (88 hộ), Thôn 4 Minh Chiềng (104 hộ), Thôn Pom Khén (42 hộ). Kinh tế thuần nông chiếm tỷ trọng 90%.
2. Thực hiện Tiêu chí số 17 (Môi trường) trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017–2020:
Báo cáo của xã cho thấy địa phương chưa đạt chuẩn tiêu chí môi trường (dự kiến hoàn thành vào năm 2020):
- Tỷ lệ người dân sử dụng nước hợp vệ sinh: 80,3%.
- Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh chưa đạt tiêu chuẩn môi trường: 35%.
- Tỷ lệ hộ sử dụng 3 công trình hợp vệ sinh (nhà tắm, nhà vệ sinh, bể nước) đạt chuẩn: 76,8%.
- Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh: chỉ đạt 35%.
- Xã đã có quy hoạch nghĩa trang nhân dân nhưng người dân vẫn còn tập quán chôn cất rải rác tại các thôn bản.
3. Khảo sát hiện trạng sử dụng nước và chất lượng nước mặt:
Điều tra 50 hộ gia đình về nguồn nước sinh hoạt thu được cơ cấu cụ thể:
| Nguồn nước sinh hoạt |
Số hộ gia đình (hộ) |
Tỷ lệ (%) |
| Nước máy / nước sạch (tự chảy dẫn từ khe qua bể lắng/lọc) |
42 |
84,0 |
| Nước giếng đào |
2 |
4,0 |
| Nước giếng khoan |
0 |
0,0 |
| Nguồn khác (gánh trực tiếp suối, khe...) |
6 |
12,0 |
| Tổng cộng |
50 |
100,0 |
Kết quả thử nghiệm chất lượng nước mặt tại 2 điểm đo đối chiếu với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1) như sau:
| Thông số phân tích |
Đơn vị |
Mẫu nước ao (Thôn 2 Minh Hạ) |
Mẫu nước suối (Trung tâm xã) |
QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1) |
| pH |
- |
6,77 |
6,51 |
5,5 – 9,0 |
| COD |
mg/l |
1,44 |
6,88 |
30 |
| BOD5 |
mg/l |
1,55 (nhận xét: 1,15) |
5,50 |
15 |
| Nitrat (NO3-) |
mg/l |
0,022 |
0,024 |
10 |
| Phosphat (PO43-) |
mg/l |
0,042 |
0,001 |
0,3 |
| Độ đục |
mg/l |
21,46 |
- |
- |
Số liệu thử nghiệm cho thấy các chỉ tiêu hóa học đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của quy chuẩn cột B1 (nước mặt phục vụ mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích tương tự). Tuy nhiên, tác giả ghi nhận cảm quan nguồn nước có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ trong mùa mưa do chất thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi xả tràn.
4. Hiện trạng nước thải, hệ thống thoát nước và nhà vệ sinh:
| Loại hình cống thải |
Số hộ gia đình (hộ) |
Tỷ lệ (%) |
| Cống thải chung của làng / xã |
10 |
20,0 |
| Thải trực tiếp vào ao, hồ |
25 |
50,0 |
| Chảy tràn tự do trên mặt đất |
15 |
30,0 |
| Tổng cộng |
50 |
100,0 |
Về công trình vệ sinh của 50 hộ gia đình khảo sát:
| Loại hình nhà tiêu |
Số hộ gia đình (hộ) |
Tỷ lệ (%) |
| Nhà vệ sinh tự hoại |
6 |
12,0 |
| Hố xí đất (nhà tiêu 1 ngăn) |
35 |
70,0 |
| Loại khác (hố xí 2 ngăn) |
9 |
18,0 |
| Nhà vệ sinh công cộng |
0 |
0,0 |
| Tổng cộng |
50 |
100,0 |
Khảo sát thực địa chỉ ra rằng có tới 70% hộ dùng hố xí đất tạm bợ, đặt gần giếng nước hoặc nguồn nước sinh hoạt, không đáp ứng quy chuẩn của Bộ Y tế. Nhiều hộ sử dụng phân tươi chưa qua ủ đủ 6 tháng để bón cây, tạo nguy cơ lây truyền mầm bệnh tả, lỵ, thương hàn, giun sán.
5. Quản lý chất thải rắn (rác thải sinh hoạt):
| Phương thức xử lý rác thải |
Số hộ gia đình (hộ) |
Tỷ lệ (%) |
| Hố rác riêng trong khuôn viên vườn nhà |
39 |
78,0 |
| Đổ rác tùy tiện (bờ rào, ven đường, suối) |
11 |
22,0 |
| Đổ tại bãi rác tập trung của xã |
0 |
0,0 |
| Được thu gom theo dịch vụ vệ sinh môi trường |
0 |
0,0 |
| Tổng cộng |
50 |
100,0 |
Địa bàn xã Minh Lương hoàn toàn chưa có tổ đội hoặc hợp đồng dịch vụ thu gom rác chuyên nghiệp, chưa có bãi tập kết rác thải đạt chuẩn. Cơ quan nhà nước và trường học trên địa bàn tự xử lý bằng cách đốt tại chỗ. Rác y tế tại trạm xá vẫn xử lý chung bằng hình thức đốt hoặc chôn lấp lẫn với rác thải thông thường. Tình trạng vứt rác tùy tiện (chiếm 22%) tạo nên các đống rác tự phát bốc mùi hôi thối và nước rỉ rác gây ô nhiễm đất, nước.
6. Môi trường không khí và hoạt động chăn nuôi:
Môi trường không khí bị tác động bởi: hoạt động giao thông gia tăng; bụi phát sinh từ việc vận chuyển đất đá, vật liệu xây dựng phục vụ các công trình nông thôn mới; khói từ hoạt động đốt rác bừa bãi (chứa túi nilon, cao su); hoạt động khai thác quặng vàng trái phép tại các thôn; mùi phát sinh từ nhà tiêu hố xí đất và chuồng trại chăn nuôi.
Về chăn nuôi: Cơ cấu vật nuôi chính là trâu, bò, lợn và gia cầm. Đa phần các chuồng trại chăn nuôi xây dựng sát nhà ở, không có rãnh thoát nước phân hay hầm biogas; phân và nước rửa chuồng xả trực tiếp ra mương rãnh, ao hồ làm phát sinh vi khuẩn đường ruột (Salmonella sp.), trứng giun sán, gây ô nhiễm môi trường đất và làm suy giảm khả năng tự làm sạch của hệ sinh thái đất.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tóm tắt toàn bộ hiện trạng môi trường xã Minh Lương: chất lượng nước mặt tự nhiên còn tương đối tốt nhưng hệ thống thu gom, xử lý nước thải và rác thải sinh hoạt hoàn toàn thiếu thốn; tỷ lệ nhà tiêu và chuồng trại hợp vệ sinh còn rất thấp. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cần triển khai các chính sách hỗ trợ vốn vay làm nhà tiêu hợp vệ sinh, thành lập tổ thu gom rác thải nông thôn, quản lý nghiêm ngặt các điểm khai thác khoáng sản tự phát và tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh cho người dân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp được hệ thống số liệu thực địa phản ánh bức tranh vệ sinh môi trường nông thôn tại xã Minh Lương năm 2018:
- Cung cấp số liệu khảo sát xã hội học từ 50 hộ gia đình đại diện: 84% hộ dùng nước dẫn từ khe; 70% hộ dùng hố xí đất; 50% hộ xả nước thải vào ao hồ và 30% xả chảy tràn tự do; 78% hộ tự đào hố rác tại vườn; 22% hộ vứt rác tùy tiện; 0% hộ gia đình được tiếp cận dịch vụ thu gom rác tập trung.
- Cung cấp kết quả thử nghiệm định lượng nước mặt tại 2 điểm điển hình (nước ao tại Thôn 2 Minh Hạ có pH = 6,77, COD = 1,44 mg/l, BOD5 = 1,55 mg/l; nước suối trung tâm xã có pH = 6,51, COD = 6,88 mg/l, BOD5 = 5,5 mg/l), chứng minh nguồn nước mặt tự nhiên chưa vượt ngưỡng giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1).
- Ghi nhận hiện trạng thực hiện Tiêu chí số 17 trong chương trình Nông thôn mới của xã: chỉ đạt 80,3% tỷ lệ nước hợp vệ sinh; 76,8% tỷ lệ 3 công trình vệ sinh đạt chuẩn; 35% cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh; 35% cơ sở sản xuất kinh doanh chưa đạt tiêu chuẩn môi trường.
Về mặt đóng góp, khóa luận là tài liệu điều tra thực địa trực tiếp tại xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, cung cấp cơ sở dữ liệu sơ cấp về các điểm nghẽn môi trường (rác thải sinh hoạt, nhà tiêu một ngăn, nước thải chăn nuôi và bụi đường nông thôn mới) mà chính quyền địa phương cần giải quyết để hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017–2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện của tác giả:
- Số lượng mẫu phân tích hóa lý môi trường còn rất mỏng: toàn bộ đề tài chỉ thực hiện phân tích 02 mẫu nước mặt đơn lẻ (01 mẫu ao và 01 mẫu suối) tại một thời điểm duy nhất (ngày 08/05/2018), chưa có sự theo dõi biến thiên theo mùa (mùa khô và mùa mưa).
- Đề tài chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích định lượng chỉ tiêu vi sinh (chỉ số E.Coli, Coliform) trong nguồn nước sinh hoạt dù phần cơ sở lý thuyết có đề cập chi tiết; chưa phân tích định lượng mẫu đất (kim loại nặng, dư lượng thuốc BVTV) và mẫu không khí (nồng độ bụi, khí độc) mà chủ yếu dựa vào quan sát cảm quan và tổng hợp tài liệu thứ cấp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng mạng lưới lấy mẫu quan trắc môi trường (nước ngầm, nước sinh hoạt tại vòi, đất sản xuất nông nghiệp), gia tăng dung lượng mẫu phỏng vấn hộ gia đình và xây dựng mô hình thử nghiệm xử lý chất thải chăn nuôi quy mô hộ (như hầm biogas composite, đệm lót sinh học) phù hợp với địa bàn miền núi.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:
- Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Phát triển Nông thôn: có thể tham khảo phương pháp kết hợp giữa điều tra xã hội học nông thôn bằng phiếu câu hỏi với khảo sát thực địa và lấy mẫu nước mặt; cách mạng lưới hóa các chỉ tiêu đánh giá theo Tiêu chí 17 Nông thôn mới.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện tại khu vực miền núi: tham khảo nguồn số liệu cơ sở về thực trạng nhà tiêu, chuồng trại, hệ thống thoát nước và phương thức thải bỏ rác thải sinh hoạt tại xã Minh Lương năm 2018 nhằm xây dựng phương án thu gom rác và quy hoạch nghĩa trang, kênh mương phù hợp.
- Phần đáng tham khảo nhất trong tài liệu là hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết cơ cấu sử dụng nước, hình thức xả thải, loại hình nhà tiêu và thói quen xử lý rác của 50 hộ gia đình tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Chất lượng nước mặt tại ao thôn Minh Hạ 2 và suối trung tâm xã Minh Lương có bị ô nhiễm hóa học không?
Theo kết quả phân tích ngày 08/05/2018 tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, các chỉ tiêu pH (6,77 và 6,51), COD (1,44 mg/l và 6,88 mg/l), BOD5 (1,55 mg/l và 5,5 mg/l), NO3- (0,022 mg/l và 0,024 mg/l), PO43- (0,042 mg/l và 0,001 mg/l) đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1). Tuy nhiên, nước có dấu hiệu đục và có nguy cơ ô nhiễm vi sinh do nước thải sinh hoạt và chăn nuôi xả thẳng ra nguồn tiếp nhận.
2. Tỷ lệ các loại hình nhà tiêu được người dân xã Minh Lương sử dụng như thế nào?
Trong 50 hộ gia đình khảo sát, nhà tiêu hố xí đất chiếm tỷ lệ áp đảo với 70% (35 hộ); hố xí hai ngăn chiếm 18% (9 hộ); nhà vệ sinh tự hoại chỉ chiếm 12% (6 hộ); trên địa bàn không có nhà vệ sinh công cộng.
3. Hoạt động thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Minh Lương được thực hiện ra sao?
Xã Minh Lương hoàn toàn chưa có tổ dịch vụ thu gom rác hay bãi rác tập trung (đạt tỷ lệ 0%). 78% số hộ (39 hộ) tự đào hố rác trong vườn để đốt hoặc lấp; 22% số hộ (11 hộ) xả rác tùy tiện ra bờ rào, đường đi hoặc lòng suối. Rác y tế tại trạm xá vẫn xử lý chung bằng cách đốt hoặc chôn cùng rác sinh hoạt.
4. Mức độ đạt chuẩn Tiêu chí số 17 (Môi trường) của xã Minh Lương tại thời điểm khảo sát năm 2018 là bao nhiêu?
Xã Minh Lương chưa đạt Tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới. Tỷ lệ cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh chỉ đạt 35%; tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh chưa đạt tiêu chuẩn môi trường là 35%; tỷ lệ sử dụng 3 công trình vệ sinh đạt chuẩn là 76,8%. Dự kiến của địa phương là phấn đấu đạt tiêu chí này vào năm 2020.
5. Cơ cấu dân tộc và quy mô dân số tại địa bàn nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
Xã Minh Lương có 749 lao động phân bố trên 11 thôn bản. Về thành phần dân tộc: dân tộc Tày chiếm đa số với 85%, dân tộc Kinh chiếm 10% và dân tộc Dao chiếm 5%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Thiệp đã phản ánh chân thực hiện trạng môi trường nông thôn xã Minh Lương (Văn Bàn, Lào Cai) trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới năm 2018. Mặc dù các chỉ tiêu hóa học của nguồn nước mặt tự nhiên vẫn nằm trong giới hạn quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B1), môi trường sống của địa phương đang đối mặt với nhiều nguy cơ ô nhiễm vi sinh và suy thoái cảnh quan do 70% hộ dân vẫn sử dụng hố xí đất, 80% hộ xả nước thải trực tiếp ra ao hồ hoặc chảy tràn, cùng việc thiếu hoàn toàn hệ thống thu gom chất thải rắn tập trung. Công trình cung cấp bức tranh số liệu khảo sát cụ thể, làm tiền đề thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao tiêu chí môi trường tại địa bàn miền núi.