chương 1, điều 3 xác định: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. * Chức năng của môi trường - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. - Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất.
- Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái Đất - Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người * Khái niệm ô nhiễm môi trường: - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường h 5 gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014). - "Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)”. - Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hóa học -sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật.Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. - Ô nhiễm môi trường đất là sự biến đổi thành phần,tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và những phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp lý các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất.
Ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất. - Ô nhiễm tiếng ồn như một âm thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi làm ảnh hưởng đến con người và môi trường sống của con người bao gồm đất đai, công trình xây dựng và động vật nuôi ở trong nhà. * Quản lý môi trường: - Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. - Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 chính là “tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT” cho cộng đồng và “đẩy mạnh xã hội hóa công tác BVMT” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
h 6 - “Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác BVMT. Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại. Ở những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày cành được quan tâm. Người ta dần dần dùng mức độ tốt xấu của môi trường, để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” (Lê Văn Khoa và cs, 2003).
Cơ sở pháp lý - Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường 2014. Ngày 23/6/2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ Môi tường số 55/2014/QH13. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. - Căn cứ vào nghị định số 80/2006 NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của chính phủ về sửa đổi bổ xung một số điều của Nghị định 80/2006 NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Bảo vệ môi trường.
- Thông tư 27/2011/TT-BYT về việc ban hành QCVN 01:2011/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - điều kiện bảo đảm vệ sinh. - Quyết định số 51/2008/QĐ - BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về ban hành bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. - Quyết định số 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 - 2015 - Quyết định số 367-BVTV/QĐ về việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam do Cục Bảo vệ thực vật ban hành. - Hệ thống các tiêu chuẩn Việt Nam: h 7 + QCVN 08:2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt + QCVN 09:2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm + QCVN 14:2015/ BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt.
+ QCVN 15:2015/ BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ hóa chất thực vật trong đất. + QCVN 26:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn. + QCVN 54:2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng xử lý hóa chất bảo vệ thực vật hữu cơ khó phân hủy tồn lưu theo mục đích sử dụng đất. + QCVN 05:2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh.
Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới và trong nước 2. Một số đặc điểm hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới * Sự khan hiếm nước - nghèo đói và xung đột nội bộ cộng đồng Nguy cơ lớn nhất hiện nay, đó là thiếu nguồn nước. Bản báo cáo của Liên hiệp quốc cảnh báo, từ nay đến năm 2030, các nguồn nước hiện có chỉ có thể đáp ứng được 40% nhu cầu của nhân loại. Khoảng 1,6 tỷ người đang sống ở những vùng khan hiếm nước, nhưng con số này sẽ nhanh chóng lên tới 2 tỷ nếu thế giới tiếp tục cách thức sử dụng nước như hiện nay.
Nguy cơ đói nghèo, an ninh năng lượng và những bất đồng có nguyên nhân sâu xa từ vấn đề nước. Đói nghèo càng trở nên tồi tệ khi người nghèo thiếu nước. Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng hơn khi tình trạng ô nhiễm trên h 8 các ao hồ, sông suối, vùng ven bờ. đã hủy hoại hệ sinh thái gây ra nhiều tổn hại.
“Cứ 10 giây lại có một trẻ em chết vì đói” là thông điệp mà các tổ chức từ thiện muốn nhắn gửi tới giới lãnh đạo G8 tại Hội nghị G8 - 2013. * Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đều Có thể nói rằng trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, tất cả các quốc gia từ các quốc gia đang bị nội chiến tàn phá đều có những cố gắng vượt bậc để phát triển kinh tế và đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên sự không đồng đều về kinh tế, thu nhập và mức sống vật chất giữa các quốc gia ngày càng tăng. Năm 2011 Hoa Kỳ vẫn là nước có tổng sản phẩm xã hội cao nhất thế giới với 13,8 tỷ USD, tiếp đó là Trung Quốc với tổng sản phẩm xã hội bằng 7,04 tỷ USD.
Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, vùng có tăng trưởng kinh tế cao với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội trên 6% trong những năm đầu thập kỷ 90. Phần Đông Nam Á và Đông Bắc Á có tốc độ tăng trưởng lớn hơn 7% trong lúc phần Nam Á chỉ tăng trưởng nhỏ hơn 4%. Sự phân bố thu nhập trong khu vực phân bố không đều 25% dân số sống dưới mực nghèo khổ. Điều này tạo nên một áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên thiên nhiên do những người nghèo khổ, không vốn, không phương tiện và thiết bị chỉ còn cách kiếm sống độc nhất là khai thác cùng kiệt tài nguyên thiên nhiên còn ở trong tầm lao động của họ.
* Gia tăng sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu Nhìn chung trên toàn thế giới, lượng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng vào nông nghiệp đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi tăng lên theo cấp số nhân. Trong những năm gần đây, các tổ chức quốc tế như tổ chức Nông Lương (FAO), tổ chức Y Tế thế giới (WHO), chương trình phát h 9 triển của Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức môi trường đã cố gắng hạn chế việc sử dụng các chất hóa học nhân tạo vào nông nghiệp và đã thu được những kết quả bước đầu. Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là nơi đã và đang có sự gia tăng mạnh mẽ về sử dụng thuốc trừ sâu. Trong những thập kỷ 80, lượng thuốc trừ sâu được sử dụng ở các nước Indonesia, Pakistan, Philippin, Srilanka, đã gia tăng hơn 10% hằng năm.
Lượng phân bón hóa học được sử dụng tại đây dự kiến sẽ giảm với tốc độ khoảng 4,3% hằng năm. Rác thải bình quân vào khoảng 0,4 - 1,5kg/người/ngày và ngày càng tăng lên đồng biến với tăng trưởng của thủ nhập quốc dân. Thành phần của rác thải cũng thay đổi theo hướng tăng lên của bộ phận rác không thể chế biến thành phân hữu cơ được. Với sự phát triển của công nghiệp lượng rác thải rắn trở nên rất lớn.
Hoa Kì mỗi năm phải xử lý, chon vùi 150 triệu tấn rác thải. Ở các đô thị và khu công nghiệp, rác thải rắn cũng trở thành vấn đề nghiêm trọng.000m2 rác thải/ngày của các đô thị thì khoảng 50% số này được thu gom và xử lý thô sơ. Trong rác thải rắn có cả những chất độc hại như kim loại nặng, nguồn dịch bệnh nguy hiểm. * Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn Dân số nông thôn Thế giới hiện nay đang tăng rất nhanh với tốc độ 1%.
Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tốc độ này là 1-2,5%. Với xu thế này sự phân bố dân cư đô thị và nông thôn ngày càng mất cân bằng. Một mặt lực lượng lao động trẻ sẽ bị thu hút vào đô thị gây thêm những căng thẳng về môi trường; mặt khác tại nông thôn do thiếu lực lượng lao động trẻ, khỏe, công tác phục hồi suy thoái vì vậy sẽ gặp nhiều khó khăn. Sự mất cân đối này thường diễn ra qua việc dân nông thôn di cư một cách vô tổ chức tới các đô thị.
Viện Tài nguyên Thế giới ước lượng rằng, trên h 10 thế giới hằng năm có 70.000km2 đất nông nghiệp phải bỏ hoang do không còn màu mỡ, khoảng 20.000km2 năng suất giảm sút rõ rệt.