MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi bò sữa đã bắt đầu phát triển ở Việt Nam 50 năm, nhƣng kể từ năm 2001 sau khi có Quyết định 167/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ về một số biện pháp phát triển đàn bò sữa Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 thì chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam mới thực sự phát triển. Nhờ có chính sách này, ngành chăn nuôi bò sữa ở một số vùng đã đóng góp m ột phần quan trọng vào cơ c ấu thu nhập của nhiều nông hộ. Thu nhập từ chăn nuôi b ò s ữ a đã trở thành nguồn thu nhập đáng kể của nhiều hộ chăn nuôi.
Tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm của đàn bò sữa l ê n t ớ i 3 0 % trong giai đoạn 2001 - 2009 (Đỗ Kim Tuyên, 2009) [28]. Trong những năm vừa qua, Hà Nội là địa phƣơng có đàn bò sữa tăng trƣởng nhanh cả về số lƣợng và chất lƣợng. Năm 2014 tổng đàn bò sữa của thành phố là 14.057 con, tăng 6,5% so với năm 2013. Sản lƣợng sữa đạt 32,03 ngàn tấn, tăng 9,7% so cùng kỳ năm 2013.
Thành phố Hà Nội quy hoạch 7 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp cho phát triển chăn nuôi bò sữa, trong đó huyện Ba Vì là một tiểu vùng chăn nuôi bò sữa phát triển nhất. Năm 2001 tổng đàn bò sữa của huyện là 1.035 con, đến năm 2014 tổng đàn bò sữa của huyện là 8.045 con, chiếm 64% tổng đàn bò sữa trên địa bàn thành phố (Niên giám thống kê Hà Nội, 2014)[22]. Bên cạnh đó, hàng năm sản xuất chăn nuôi, chủ yếu là chăn nuôi gia s c nhai lại, tạo ra khoảng 86 triệu tấn khí methane (CH4), đóng góp tới 18% tổng lƣợng khí thải nhà kính (Steinfeld và cs. Lƣợng methane có xu hƣớng ngày càng tăng do số lƣợng gia s c tăng nhanh trên phạm vi toàn thế giới.
Theo Moss và cs (2000)[62] methane từ gia súc nhai lại chiếm khoảng 30-40% tổng lƣợng methane thải ra từ cơ quan tiêu hóa của động vật trên toàn cầu. Việc phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi đang có khuynh hƣớng gia tăng do tăng cả về số lƣợng và quy mô chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu thịt, sữa ngày càng cao của con ngƣời (Leng, 2008)[61]. Methane sản sinh trong dạ cỏ không chỉ gây nên hiệu ứng khí thải nhà kính mà methane mất đi còn kéo theo mất đi khoảng 10% năng lƣợng của vật chủ (Moss và cs, 2000)[62]. 2 Thực tế, sản xuất chăn nuôi trong sản xuất kinh tế hộ gia đình rất đa dạng và phong phú về cả loài, giống, quy mô, mức độ thâm canh, tiêu thụ sản phẩm; theo vùng miền, tình hình kinh tế và trình độ kỹ thuật của ngƣời nông dân.
đã tạo nên sự đa dạng các mô hình, hệ thống chăn nuôi ở các địa phƣơng. Do vậy, nghiên cứu thực trạng chăn nuôi ở mỗi vùng là rất cần thiết và quan trọng, giúp ta có một cái nhìn đầy đủ, khách quan nhất về thực trạng chăn nuôi của vùng nhằm đề ra những giải pháp phát triển phù hợp. Chăn nuôi bò sữa tại Ba Vì còn gặp nhiều khó khăn nhƣ thiếu vốn, thiếu đất trồng cỏ, việc chọn giống, quản lý, nhiều nông hộ còn chƣa chủ động đủ nguồn thức ăn thô xanh và vẫn còn nhiều hộ chăn nuôi theo phƣơng thức tận dụng. Xuất phát từ những lý do và sự cần thiết trên nhằm tìm hiểu đánh giá thực trạng của ngành chăn nuôi bò sữa và lƣợng phát thải khí nhà kính (CH4), chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng chăn nuôi bò sữa tại huyện Ba Vì - Hà Nội và bước đầu tính toán phát thải khí nhà kính (CH4) trong chăn nuôi bò sữa”.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Đánh giá thực trạng, tiềm năng phát triển chăn nuôi bò sữa tại 3 xã Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. - Xác định năng suất, hiệu quả kinh tế, thuận lợi và khó khăn trong chăn nuôi bò sữa theo quy mô nông hộ. - Thấy đƣợc những điểm mạnh cũng nhƣ những hạn chế của hiện trạng chăn nuôi bò sữa để từ đó đề ra các giải pháp thích hợp nhằm th c đẩy chăn nuôi bò sữa của huyện Ba Vì - Hà Nội, ngày càng phát triển hiệu quả, giảm thiểu tác động phát thải khí nhà kính trong (CH4).
Yêu cầu - Thu thập đầy đủ, chính xác các thông tin và số liệu liên quan đến các quy mô chăn nuôi bò sữa của vùng nghiên cứu. - Đánh giá hiện trạng, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa ở các nông hộ. - Đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững ở huyện Ba Vì, Hà Nội. - Ƣớc tính lƣợng phát thải khí nhà kính(CH4) trong chăn nuôi bò sữa.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài * Ý nghĩa khoa học: - Đƣa ra những cơ sở khoa học, thực tiễn cho định hƣớng phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững của huyện Ba Vì và Thành phố Hà Nội trong những năm tiếp theo. - Bƣớc đầu tính toán đƣợc lƣợng phát thải khí nhà kính (CH4) trong chăn nuôi bò sữa. * Về ý nghĩa thực tiễn: - Đề tài góp phần khảo sát, đánh giá thực trạng chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì - Hà Nội thấy đƣợc những điểm mạnh, điểm hạn chế, cơ hội và thách thức để từ đó gi p đề ra những chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì - Hà Nội một cách hiệu quả và bền vững. - Việc xác định đƣợc lƣợng phát thải khí nhà kính (CH4) là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xác định quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò sữa hợp lý trong nông hộ.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chăn nuôi bò sữa 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ Các yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hƣởng trực tiếp đến trao đổi nhiệt của cơ thể và do vậy mà ảnh hƣởng đến khả năng thu nhận thức ăn, sức khỏe của bò. Các yếu tố đó bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, lƣợng mƣa, thời gian chiếu sáng, gió, bức xạ, trong đó yếu tố nhiệt độ và ẩm độ giữ vai trò quan trọng nhất.
Theo Mai Thị Thơm và Nguyễn Xuân Trạch (2004)[35] các yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hƣởng không thuận lợi đến sức khỏe và sức sản xuất của bò sữa thông qua hai con đƣờng. Ảnh hƣởng trực tiếp của nhiệt độ và ẩm độ cao lên cơ thể con vật và ảnh hƣởng gián tiếp qua chất lƣợng thức ăn và bệnh tật. Nhiệt độ không khí từ 10 - 200C, ẩm độ từ 55-65% là điều kiện lý tƣởng cho sinh trƣởng phát triển và sản xuất của bò. Ở bò sữa, việc tiết mồ hôi là biện pháp chính để thải nhiệt.
Quá trình này bị ảnh hƣởng bởi nhiệt độ môi trƣờng và ẩm độ không khí. Nhiệt độ đƣợc ổn định trong cơ thể trong một giới hạn khá hẹp và các quá trình sinh lý trong điều kiện trao đổi chất bình thƣờng. Bò sữa là động vật đẳng nhiệt, để duy trì đƣợc trạng thái đẳng nhiệt, bò cần trạng thái cân bằng nhiệt với môi trƣờng. Bò sữa thích hợp nhất với khoảng nhiệt độ từ 5-250C, đây là nhiệt độ trung tính.
Khi nhiệt độ > 250C, bò sữa đạt tới điểm mà tại đó ch ng không thể làm mát cơ thể đƣợc nữa và rơi vào trạng thái stress nhiệt. Mọi sự thay đổi về môi trƣờng đều đe dọa và ảnh hƣởng đến cân bằng trao đổi chất ở bò sữa. Ở bò sữa khi năng suất tăng, thì nhiệt độ sinh ra cũng tăng lên với quá trình tiêu hóa một lƣợng lớn thức ăn. Do vậy, bò sữa năng suất cao, chịu ảnh hƣởng của nhiệt độ và ẩm độ môi trƣờng lớn hơn ở bò sữa năng suất thấp và có mức độ trao đổi chất lớn hơn, trao đổi chất và năng suất luôn đi song song với nhau, bò sữa năng suất cao chịu ảnh hƣởng stress nhiệt cao hơn vì vùng trung hòa nhiệt của chúng giảm thấp.
Khi năng suất sữa tăng, lƣợng thu nhận thức ăn tăng dần, dẫn đến nhiệt sản xuất ra trong cơ thể tăng. Theo Silarikove stress nhiệt làm tăng sự mất 5 dịch từ cơ thể vì tăng hô hấp và tiết mồ hôi, nếu quá trình này tiếp tục đến một lúc nào đó cơ thể mất sự kiểm soát sẽ đe dọa đến khả năng điều khiển nhiệt và hệ tim mạch. Để chống lại stress nhiệt gia súc thực hiện các đáp ứng về thần kinh và thể dịch trong việc điều hòa thân nhiệt. Theo Shearer và Beede khi chỉ số nhiệt ẩm ≤ 72 bò sữa ôn đới bắt đầu có dấu hiệu stress; THI nằm trong khoảng 79-89 bò sẽ rơi vào tình trạng stress nhiệt nặng.
Trong khi đó ở giới hạn THI 79 – 89 thì ảnh hƣởng của stress nhiệt với bò sữa lai F1 nuôi tại Ba Vì trong mùa hè không rõ. Bò F2 biểu hiện stress nhiệt nặng hơn bò F1 (Vƣơng Tuấn Thực, 2005)[42]. Trong điều kiện stress nhiệt, quá trình trao đổi chất (trao đổi muối khoáng, trao đổi nƣớc), hoạt động tiêu hóa bị ảnh hƣởng, khi bò stress nhiệt, Na trong nƣớc tiểu tăng, bổ sung thêm Na và K cao hơn tiêu chuẩn thấy năng suất sữa tăng lên đáng kể. Khả năng sinh sản của bò và các yếu tố ảnh hưởng 1.
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản Tính trạng sinh sản trong chăn nuôi bò sữa là tính trạng quan trọng vì sinh sản với bò sữa không chỉ đơn thuần là để duy trì nòi giống, mà còn để tạo ra sản phẩm (sữa), nó ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa. Các chỉ tiêu đánh giá sinh sản của bò gồm: a) Tuổi phối giống lứa đầu Cũng nhƣ các loài gia s c khác thời gian thành thục về tính của bò thƣờng sớm hơn thời gian thành thục về thể vóc, với bò khi mới đạt 30-40% khối lƣợng trƣởng thành bò đã thành thục về tính. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải chọn thời điểm phối giống lần đầu phù hợp, nếu phối quá sớm sẽ ảnh hƣởng đến khả năng phát triển của bò mẹ và khối lƣợng bê sơ sinh, ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản và sức sản xuất của bò sữa. Theo tác giả Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004)[35] tuổi phối giống lần đầu tiên của bò vàng Việt Nam là 20 - 24 tháng tuổi, bò laisind là 18 - 24 tháng tuổi, bò HF từ 15 - 20 tháng tuổi.
b) Tuổi đẻ lứa đầu Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào yếu tố di truyền, ngoại cảnh, chế độ nuôi dƣỡng, chăm sóc bê, khí hậu và ảnh hƣởng sinh trƣởng, phát dục của giống.