CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VIỆC QUẢN LÝ HỆ THỐNG CẤP NƯỚC 1. Tổng quan chung về quản lý hệ thống cấp nước đô thị 1. Các mô hình quản lý hệ thống cấp nước trên thế giới. Việc quản lý các hệ thống cấp nước trên thế giới xuất hiện khá sớm.
Con người đã biết xây dựng các công trình để khai thác nguồn nước phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày với nhiều loại hình khác nhau như đào giếng hoặc làm các hồ để trữ nước. Tuỳ vào điều kiện thực tế của mỗi nước mà mô hình quản lý, vận hành hệ thống cấp nước có khác nhau. Trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ, kỹ thuật cấp nước ngày càng đạt trình độ cao và hoàn thiện hơn. Theo đánh giá của các chuyên gia: việc quản lý vận hành các hệ thống cấp nước, ở các nước tiên tiến và có nền công nghiệp và khoa học phát triển như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Singapore… chất lượng nguồn nước cấp rất tốt.
Chất lượng dịch vụ cao, nguồn nước cấp thường xuyên liên tục và ổn định với đầy đủ áp lực, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng khá lớn từ thấp nhất là 128lít/người ngày (Hà Lan) tới cao nhất 371lít/người ngày (Mỹ). Giá nước cũng khá cao từ 1,33USD/m3 (Nhật Bản) đến 2,49USD/m3 (Đức). Số người sử dụng nước sạch đạt 96% lên đến 100%. Đầu tư hàng năm ở mức cao từ 26,9USD/người (Hà Lan) đến 138USD/người (Đức), mặc dù cơ sở hạ tầng trước đó cũng rất phát triển.
Năng suất lao động cao do số công nhân quản lý vận hành tính trên 1000 kết nối ở mức thấp. Ngược lại, ở các nước đang phát triển như Ấn độ, Trung Quốc, Malaysia , Indonesia … và cả Việt Nam chất lượng nguồn nước cấp chưa đảm bảo, chất lượng dịch vụ chưa cao, nguồn nước cấp không thường xuyên liên tục và ổn định, áp lực nước không đầy đủ, chỉ đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng từ thấp nhất là 50lít/người ngày (vùng nông thôn) và 70-100 lít/người ngày( ở đô thị). Cũng theo đánh giá của các chuyên gia thì các mô hình quản lý trên thế giới bao gồm: Nhà nước là các Công ty cấp nước Quốc gia (Singapore); Công ty cấp nước thuộc tỉnh; Công ty cấp nước thuộc quận, huyện; Tư nhân, Doanh nghiệp (gồm các hình thức: (a) Dịch vụ hoặc hợp đồng quản lý, (b) Cho thuê, (c) nhượng quyền, (d) Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao (BOT), (e) Sở hữu từng phần và (f) Cung cấp dịch vụ độc lập (A. Kamruzzaman, Ilias Said & Omar Osman, 2013).
Các mô hình quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam a. Về quản lý hệ thống cấp nước: - Khu vực đô thị: Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, Bộ Xây Dựng là cơ quan đầu mối, UBND các tỉnh thành là cơ quan quản lý và lãnh đạo các công ty cấp nước và quyết định giá nước, các công ty cấp nước là đơn vị quản lý, vận hành trực tiếp hệ thống cấp nước. Tùy theo mỗi địa phương mà đơn vị quản lý, vận hành trực tiếp hệ thống cấp nước có tên gọi khác nhau. Có nơi đặt tên là công ty Cấp Nước, có nơi 11 đặt tên là công ty Cấp Thoát Nước và Môi Trường Đô Thị, có nơi đặt tên là công ty Điện Nước (An Giang).
Mặc dù tên gọi khác nhau nhưng nhiệm vụ chính trị chung của các đơn vị này là: khai thác, sản xuất cung cấp nước sạch cho dân cư, cơ sở sản xuất và các khu công nghiệp. Hiện nay Nhà nước đang có chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực cấp nước, một số nhà đầu tư tư nhân đã tham gia đầu tư vào lĩnh vực cấp nước bằng nhiều hình thức: bán nước sạch qua đồng hồ tổng cho các công ty cấp nước theo giá bán buôn, bán nước sạch đến từng khách hàng lẻ theo giá bán lẻ được UBND tỉnh thành cho phép. Việc lắp đặt hệ thống đấu nối khách hàng kể cả thủy lượng kế do các đơn vị cấp nước đầu tư theo quy định tại Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2007 về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch. - Khu vực nông thôn: Mô hình quản lý các công trình cấp nước nông thôn do Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý đầu mối ở Trung ương, ở các tỉnh thành thì Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cơ quan quản lý đầu mối.
Tuy nhiên mô hình quản lý hệ thống cấp nước trực tiếp ở các tỉnh lại rất đa dạng và có nhiều các tổ chức và chính quyền địa phương quản lý như: cộng đồng dân cư, Hợp tác xã, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn, Tư nhân, Doanh nghiệp và UBND xã. Với mô hình quản lý đa dạng không thống nhất về 01 mối quản lý đã qua đã dẫn đến tình trạng công trình mau xuống cấp, hư hỏng và hoạt động kém hiệu quả vì: nếu giao cho cộng đồng dân cư hay hợp tác xã quản lý sẽ nảy sinh tình trạng: cha chung không ai khóc, không có vốn để duy tu, bảo dưỡng hàng năm, Không có bộ máy quản lý ổn định cũng như cán bộ và công nhân lành nghề có tính chuyên nghiệp cao để vận hành hệ thống. Gía nước sẽ trôi nổi không minh bạch( nếu giao cho tư nhân theo hình thức nhận thầu khoán). Thực tế trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình cấp nước nông thôn ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, sau khi đưa vào khai thác sử dụng, chỉ vận hành khai thác được 1-2 năm đã bị hư hỏng phải ngưng hoạt động, gây lãng phí vốn đầu tư.
Nguyên nhân cũng xuất phát từ thực trạng mô hình quản lý bất cập như đã kể trên. Đa số các tỉnh thì Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn chỉ đóng vai trò như một đơn vị quản lý dự án, sau khi dự án được xây dựng xong thì bàn giao lại cho địa phương (nơi có dự án) quản lý. Các địa phương lại giao lại cho tổ chức, cá nhân (cộng đồng dân cư hoặc hợp tác xã, hoặc tư nhân theo hình thức nhận thầu khoán hoặc UBND các xã) trực tiếp quản lý, vận hành khai thác. Thiết nghĩ rằng Nhà nước cần phải có cơ chế phân cấp rõ ràng và thống nhất trong cả nước giao cho một đơn vị quản lý trực tiếp duy nhất là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn - Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh.
Nếu làm được như vậy thì các công trình cấp nước nông thôn sẽ hoạt động có hiệu quả cao. Ở Bạc Liêu, từ năm 2005 trở về trước, mô hình quản lý các công trình cấp nước nông thôn cũng giống như các tỉnh (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn - Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn chỉ đóng vai trò như một đơn vị quản lý dự án, sau khi dự án được xây dựng xong thì bàn giao lại cho 12 địa phương (nơi có dự án) quản lý. Điểm khác của Bạc Liêu là tất cả các công trình cấp nước nông thôn sau khi xây dựng xong th́ giao lại cho UBND các xă và thị trấn quản lư và vận hành khai thác. Do không có bộ máy quản lư và nhân viên chuyên nghiệp ổn định; Ngân sách xã hàng năm không có đáng là bao, không cò nguồn kinh phí nào cho duy trì hoạt động công trình cấp nước; Máy móc thiết bị hư hỏng không có tiền sửa chữa; Nhân viên quản lý vận hành chỉ có 02 người/công trình, không được đào tạo cơ bản, số lượng đã ít mà lại phải đảm trách nhiều nhiệm vụ : vận hành nhà máy, lắp đặt hệ thống đấu nối khách hàng, bảo trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị, ghi thu tiền nước hàng tháng.Tiền lương của các nhân viên này được trích % từ thu tiền sử dụng nước của khách hàng để chi trả theo hình thức khoán.
Hệ quả để lại là khá nhiều công trình năm ở rải rác các huyện thị trong tỉnh sau khi đưa vào sử dụng chỉ được 1-2 năm đã bị hư hõng không có tiền sửa chữa phải ngưng hoạt động, lãng phí vốn đầu tư, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Sau khi nhận được báo cáo về tình hình hoạt động của các công trình cấp nước nông thôn của các địa phương và thông tin từ báo đài truyền hình địa phương về một số công trình cấp nước nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện bị hư hỏng không hoạt động, đang bị bỏ hoang. Sở Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành kiểm tra đánh giá tình trạng hoạt động của tất cả các công trình cấp nước nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh. Kết quả kiểm tra cho thấy: chỉ có 40% công trình hoạt động có hiệu quả và có tính bền vững cao, 40% công trình hoạt động ở mức có thể chấp nhận được, 15% công trình hoạt động có hiệu quả thấp và 5% công trình hoạt động không có hiệu quả.
Thấy được những tồn tại hạn chế này, năm 2006, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu đã trình UBND tỉnh Bạc Liêu kịp thời chấn chỉnh lại mô hình quản lý là giao cho Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn trực tiếp quản lý các công trình cấp nước nông thôn trên phạm vi toàn tỉnh từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến quản lý vận hành khai thác. Việc chấn chỉnh kịp thời này đã mang lại hiệu quả rõ nét. Theo báo cáo tổng kết 10 năm (2004-2014) của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường Nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu (tháng 12 năm 2014): hiện nay trên phạm vi toàn tỉnh có 65% công trình cấp đang hoạt tốt, có tính bền vững cao, 30% công trình hoạt động ở mức có thể chấp nhận và 5% công trình hoạt động ở mức kém hiệu quả.1: Bảng thống kê các mô hình quản lý hoạt động các công trình cấp nước nông thôn theo các vùng trong cả nước[5] Cộng Hợp TTNS và Tư Doanh UB TT Vùng đồng tác xã VSMTNT nhân nghiệp ND 1 ĐB. Về vận hành hệ thống cấp nước: Nước được đưa từ nguồn (giếng khoan lấy nước ngầm, trạm thu nước mặt) đưa về nhà máy xử lý, nước sau khi xử lý được hệ thống bơm cấp II bơm vào mạng rồi đến đối tượng sử dụng.