Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam giữ vai trò then chốt trong phát triển kinh tế nông hộ, hàng năm cung cấp khoảng 18 - 20% tổng sản lượng thịt các loại (đứng thứ hai sau thịt lợn chiếm 75 - 76%) và cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng từ trứng. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, các giống gà nhập ngoại tuy có năng suất cao nhưng khả năng thích nghi và sức đề kháng trước điều kiện ngoại cảnh vùng cao còn nhiều hạn chế, đồng thời chưa đáp ứng trọn vẹn thị hiếu tiêu dùng về chất lượng thịt. Do đó, việc nghiên cứu, phục hồi và phát triển các nguồn gen gia cầm bản địa trở thành yêu cầu cấp thiết.

Gà Lông Xước là giống gà bản địa phân bố tại các huyện vùng núi cao phía Bắc tỉnh Hà Giang gồm Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc và Yên Minh. Giống gà này mang đặc điểm hình thái đặc trưng với bộ lông xước ngược toàn thân như lông nhím, vóc dáng thon gọn, nhanh nhẹn, thịt chắc, thơm ngon và có khả năng chịu đựng điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Khối lượng tối đa của gà có thể đạt 4 - 5 kg và sản lượng trứng đạt 50 - 60 quả/mái/năm. Ngày 07 tháng 7 năm 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang đã ban hành Nghị quyết số 187/NQ-HĐND thông qua quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, trong đó xác định bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ nguồn gen gà Lông Xước. Trước đó, công tác bảo tồn quỹ gen vật nuôi giai đoạn 2005 - 2009 tại huyện Mèo Vạc cũng đã bước đầu ghi nhận giống gà này. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hệ thống và công bố số liệu đầy đủ về hiện trạng chăn nuôi, đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của giống gà Lông Xước trên địa bàn tỉnh Hà Giang vẫn chưa được thực hiện toàn diện.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Điều tra đánh giá tình hình chăn nuôi, cơ cấu đàn giống, phương thức chăn nuôi, khả năng sản xuất và tình hình dịch bệnh của giống gà Lông Xước đang được nuôi giữ tại các địa phương.
  2. Khảo sát sơ bộ về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Lông Xước tại các nông hộ.

Đối tượng, phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà Lông Xước đang được nuôi giữ tại các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: 8 xã thuộc 4 huyện vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang, bao gồm: xã Cán Tỷ, Đông Hà (huyện Quản Bạ); xã Lao Và Chải, Mậu Duệ (huyện Yên Minh); xã Sà Phìn, Sủng Là (huyện Đồng Văn); xã Pải Lủng, Tả Lủng (huyện Mèo Vạc).
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 18/5/2017 đến ngày 18/11/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của đề tài dựa trên di truyền học số lượng và sinh lý học gia cầm:

  • Bản chất di truyền của các tính trạng số lượng: Khối lượng cơ thể, kích thước chiều đo và sản lượng trứng được kiểm soát bởi hệ đa gen (polygene) có hiệu ứng nhỏ và chịu tác động mạnh từ môi trường. Giá trị kiểu hình ($P$) được xác định thông qua phương trình: $$P = G + E = A + D + I + E_g + E_s$$ Trong đó: $G$ là giá trị kiểu gen, $E$ là sai lệch môi trường; $A$ là giá trị cộng gộp (giá trị giống), $D$ là sai lệch trội lặn, $I$ là sai lệch tương tác gen; $E_g$ là sai lệch môi trường chung và $E_s$ là sai lệch môi trường riêng.
  • Cơ sở nghiên cứu ngoại hình và sức sống: Ngoại hình (màu lông, da, mào, tích, mỏ, chân) là tính trạng chất lượng phản ánh phẩm giống và hướng sản xuất. Hệ số di truyền về sức sống gia cầm được các tài liệu tham chiếu ghi nhận ở mức 0,13 đến 0,66; hệ số di truyền về sức kháng bệnh đạt 0,25. Tốc độ sinh trưởng gắn liền với khả năng tổng hợp protein, biến đổi qua các giai đoạn phôi và hậu phôi.
  • Khung lý luận bảo tồn nguồn gen: Áp dụng chiến lược bảo tồn nguồn gen vật nuôi của FAO (1984) gồm bảo tồn tại chỗ (in-situ) và bảo tồn ngoại vi (ex-situ), đồng thời đối chiếu với các công trình nghiên cứu trên các giống gà nội địa Việt Nam (gà Ri, gà Hồ, gà Mía, gà Mèo/H'Mông, gà Đông Tảo, gà Liên Minh, gà Lông Chân, gà Nhiều Ngón).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp điều tra khảo sát: Áp dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên bằng phiếu điều tra cấu trúc sẵn tại 216 hộ chăn nuôi (phân bố đều tại 4 huyện).
  • Phương pháp đánh giá ngoại hình: Quan sát trực tiếp, phân loại hình thái mào (kiểu mào, dáng mào), cấu trúc bộ lông (lông xước, lông mượt), màu sắc lông, da, chân, mỏ, mắt tại các mốc: sơ sinh (01 ngày tuổi), giai đoạn 02 ngày đến 04 tuần tuổi, và giai đoạn trưởng thành từ 05 tuần tuổi trở lên (phân định trống/mái).
  • Đánh giá khả năng sản xuất: Thu thập số liệu khối lượng cá thể theo từng tuần tuổi (từ 5 đến 20 tuần tuổi); theo dõi các chỉ tiêu sinh sản (tuổi thành thục sinh dục, tuổi đẻ trứng đầu, số lứa đẻ/năm, số trứng/lứa, khoảng cách lứa đẻ, thời gian ấp, tỷ lệ nở).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý thống kê sinh học trong chăn nuôi theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (1997) bằng phần mềm Microsoft Excel (tính toán các tham số: số lượng mẫu $n$, giá trị trung bình $\bar{X}$, độ lệch chuẩn $Sd$, tỷ lệ phần trăm %).

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn và phát triển giống gà Lông Xước tại Hà Giang trong bối cảnh chăn nuôi gia cầm cần tìm kiếm các giống bản địa có sức chống chịu cao và chất lượng thịt tốt. Xác định mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ cụ thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài tại 4 huyện vùng cao núi đá.

Phần II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở khoa học về ngoại hình, sức sống, khả năng kháng bệnh, các tính trạng sản xuất và bản chất di truyền số lượng ở gia cầm. Tổng thuật tình hình nghiên cứu bảo tồn nguồn gen vật nuôi trên thế giới (chiến lược FAO, kinh nghiệm bảo tồn của các hiệp hội châu Âu) và tổng quan 48 giống gia cầm bản địa tại Việt Nam (đối chiếu đặc điểm sinh học của gà Ri, gà Hồ, gà Mía, gà Mèo, gà Đông Tảo, gà Lông Chân, gà Liên Minh).

Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp điều tra

Xác định cụ thể đối tượng khảo sát là quần thể gà Lông Xước nông hộ; thiết lập địa bàn nghiên cứu tại 8 xã thuộc 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc trong giai đoạn 18/5/2017 – 18/11/2017. Trình bày quy trình phỏng vấn 216 phiếu điều tra PRA, phương pháp đo đạc chỉ tiêu ngoại hình, phương pháp ghi nhận khối lượng sinh trưởng từ tuần 5 đến tuần 20, phương pháp tính toán chỉ tiêu sinh sản và phương pháp thống kê mô tả.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố chi tiết các dữ liệu điều tra thực địa qua 13 bảng số liệu thống kê:

Hiện trạng đàn và cơ cấu tính biệt: Tổng điều tra trên 216 hộ ghi nhận 1.185 con gà Lông Xước. Xã Sà Phìn (Đồng Văn) có quy mô đàn lớn nhất với 202 con (17,05%), thấp nhất là xã Tả Lủng (Mèo Vạc) với 119 con (10,04%). Quy mô đàn bình quân đạt 5,48 con/hộ và 1,28 con/khẩu. Về cơ cấu tính biệt: gà mái chiếm 64,52% (769 con), gà trống chiếm 26,49% (310 con), gà con dưới 4 tuần tuổi chưa phân biệt giới tính chiếm 9,00% (106 con).

Địa phương (Huyện) Xã điều tra Tổng số gà (con) Tỷ lệ (%) Số hộ (hộ) TB gà/hộ (con) Tổng số khẩu TB gà/khẩu (con)
Quản Bạ Cán Tỷ 137 11,56 29 4,72 125 1,10
Đông Hà 153 12,91 25 6,12 104 1,47
Yên Minh Lao Và Chải 135 11,39 24 5,63 96 1,41
Mậu Duệ 168 14,18 30 5,60 124 1,35
Đồng Văn Sà Phìn 202 17,05 30 6,73 149 1,36
Sủng Là 141 11,90 25 5,64 96 1,47
Mèo Vạc Pải Lủng 130 10,97 26 5,00 121 1,07
Tả Lủng 119 10,04 27 4,41 117 1,02
Tổng số / TB 8 xã 1.185 100,00 216 5,48 932 1,28

Đặc điểm ngoại hình qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn 01 ngày tuổi (theo dõi 35 cá thể): 100% gà có thân hình nhỏ gọn, nhanh nhẹn và lông kém mượt; 62,86% lông màu vàng tơ có sọc nâu dọc lưng; 85,71% mỏ màu hồng; 100% chân mập sáng bóng và ngón chân tõe ra (trong đó 65,71% chân màu hồng, 31,43% chân vàng).
  • Giai đoạn từ 5 tuần tuổi trở lên (310 gà trống, 769 gà mái):
    • Cấu trúc lông: 100% cá thể ở cả hai giới đều có bộ lông xước mọc ngược toàn thân.
    • Màu lông: Gà trống chiếm ưu thế tuyệt đối là màu mận đỏ tía (96,02%), gà mái phổ biến nhất là màu lá chuối khô (94,02%).
    • Kiểu và dáng mào: Gà trống có 96,02% mào cờ và 96,55% dáng răng cưa. Gà mái có 97,47% mào sít và 98,28% dáng răng cưa.
    • Da, chân, mỏ, mắt: Da trắng chiếm ưu thế (98,41% ở trống, 93,53% ở mái); chân màu chì chiếm tỷ lệ cao nhất (97,42% ở trống, 92,20% ở mái); mỏ màu đen vàng chiếm 96,44% ở trống và 97,66% ở mái; mắt màu vàng cam chiếm 94,69% ở trống và 95,65% ở mái.
Chỉ tiêu ngoại hình (≥ 5 tuần tuổi) Gà trống ($n = 310$) Gà mái ($n = 769$)
Cấu trúc bộ lông 100% lông xước ngược 100% lông xước ngược
Màu lông ưu thế Màu mận (96,02%) Màu lá chuối khô (94,02%)
Kiểu mào chính Mào cờ (96,02%) Mào sít (97,47%)
Hình dáng mào chính Răng cưa (96,55%) Răng cưa (98,28%)
Màu da ưu thế Da trắng (98,41%) Da trắng (93,53%)
Màu chân ưu thế Chân chì (97,42%) Chân chì (92,20%)
Màu mỏ ưu thế Mỏ đen vàng (96,44%) Mỏ đen vàng (97,66%)
Màu mắt ưu thế Mắt vàng cam (94,69%) Mắt vàng cam (95,65%)

Khả năng sinh trưởng từ 5 đến 20 tuần tuổi: Tại thời điểm 5 tuần tuổi, khối lượng giữa con trống (268,00 g) và con mái (269,50 g) tương đương nhau. Tốc độ tăng trọng của con trống phân hóa nhanh từ tuần thứ 6 trở đi. Đến 20 tuần tuổi, khối lượng gà trống đạt 1.794,00 g/con ($Sd = 7,67$), gà mái đạt 1.558,77 g/con ($Sd = 15,60$). Khả năng sinh trưởng tích lũy của gà Lông Xước nhìn chung thấp hơn một số giống gà nội khác, nguyên nhân do cấu trúc lông xước làm tăng tiêu tốn năng lượng cho quá trình điều hòa thân nhiệt.

Tuần tuổi Khối lượng gà trống (g/con) Độ lệch chuẩn ($Sd$) Khối lượng gà mái (g/con) Độ lệch chuẩn ($Sd$)
5 268,00 39,15 269,50 13,38
8 773,28 11,30 625,32 81,78
10 1.099,12 41,76 809,98 13,09
12 1.151,36 12,40 1.002,62 40,35
15 1.509,42 15,65 1.290,30 16,34
17 1.649,86 1,70 1.374,74 6,70
20 1.794,00 7,67 1.558,77 15,60

Khả năng sinh sản: Gà trống đạt tuổi thành thục sinh dục bình quân là 138,57 ngày ($Sd = 1,91$), gà mái thành thục lúc 141,09 ngày ($Sd = 3,35$). Tuổi đẻ trứng đầu trung bình đạt 142,64 ngày ($Sd = 3,02$). Năng suất sinh sản đạt 6,15 lứa/năm ($Sd = 0,94$); số trứng bình quân đạt 15,42 quả/lứa ($Sd = 1,12$); khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 88,26 ngày ($Sd = 6,77$); thời gian ấp trứng là 21,73 ngày ($Sd = 0,71$); tỷ lệ ấp nở tự nhiên đạt 76,50% ($Sd = 9,43$).

Chỉ tiêu sinh sản theo dõi Giá trị trung bình ($\bar{X}$) Độ lệch chuẩn ($Sd$)
Tuổi thành thục của gà trống (ngày) 138,57 1,91
Tuổi thành thục của gà mái (ngày) 141,09 3,35
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên (ngày) 142,64 3,02
Số lứa đẻ trong năm (lứa) 6,15 0,94
Số lượng trứng trên một lứa (quả) 15,42 1,12
Khoảng cách giữa các lứa đẻ (ngày) 88,26 6,77
Thời gian ấp trứng (ngày) 21,73 0,71
Tỷ lệ trứng nở (%) 76,50 9,43

Phần V: Kết luận và đề nghị

Khái quát toàn bộ kết quả định lượng về cơ cấu đàn, các đặc trưng hình thái chuẩn hóa của giống, các chỉ số sinh trưởng đến 20 tuần tuổi và các thông số sinh sản. Đưa ra 3 đề nghị mang tính thực tiễn về phổ biến kỹ thuật chăn nuôi thú y, xây dựng đàn hạt nhân chọn lọc và triển khai chương trình bảo tồn nguồn gen vật nuôi.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của nghiên cứu:

  • Thiết lập bộ dữ liệu điều tra thực địa đầu tiên về hiện trạng giống gà Lông Xước trên quy mô 4 huyện vùng cao Hà Giang với tổng số 1.185 con tại 216 hộ nông dân.
  • Xác định chuẩn hóa các đặc điểm nhận dạng ngoại hình ưu thế của giống: 100% cá thể có lông xước ngược; con trống mang mào cờ răng cưa, lông màu mận chín, da trắng, chân chì, mỏ đen vàng, mắt vàng cam; con mái mang mào sít răng cưa, lông màu lá chuối khô, da trắng, chân chì, mỏ đen vàng, mắt vàng cam.
  • Cung cấp các thông số kỹ thuật về sinh trưởng và sinh sản trong điều kiện chăn thả nông hộ: Khối lượng 20 tuần tuổi đạt 1.794,00 g (trống) và 1.558,77 g (mái); tuổi đẻ trứng đầu 142,64 ngày; sản lượng 6,15 lứa/năm (15,42 quả/lứa), tỷ lệ nở đạt 76,50%.

Kiến nghị và giải pháp của tác giả:

  • Hỗ trợ và tạo điều kiện cho người dân vùng cao tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật về chuồng trại, dinh dưỡng và quy trình phòng trừ dịch bệnh thú y.
  • Tiến hành bình tuyển, chọn lọc các cá thể mang đầy đủ đặc trưng ngoại hình và năng suất cao để xây dựng đàn hạt nhân phục vụ nhân giống thuần.
  • Triển khai các chính sách bảo tồn nguồn gen cấp địa phương nhằm hạn chế nguy cơ lai tạp tự do và suy thoái nguồn gen gà quý.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận đã bổ sung các dữ liệu thực nghiệm định lượng chi tiết mà các báo cáo trước đó (như báo cáo của Phòng NN&PTNT huyện Mèo Vạc giai đoạn 2005 - 2009) mới chỉ dừng lại ở mức ghi nhận sơ bộ sự tồn tại của giống. Đây là công trình đầu tiên khảo sát đầy đủ cả về cơ cấu đàn, hình thái học chi tiết và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của gà Lông Xước trên toàn bộ địa bàn 4 huyện cao nguyên đá Hà Giang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Quy mô chăn nuôi tại các hộ dân còn manh mún, nhỏ lẻ (bình quân 5,48 con/hộ), phương thức nuôi hoàn toàn thả rông tự nhiên, tận dụng thức ăn nên các số liệu sinh trưởng và sinh sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện chăm sóc của từng gia đình.
  • Tỷ lệ nở tự nhiên còn ở mức trung bình (76,50%) do kỹ thuật ấp trứng truyền thống và công tác quản lý phối giống chưa được kiểm soát.
  • Khả năng tích lũy khối lượng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm bộ lông xước gây tiêu hao năng lượng điều hòa thân nhiệt trong điều kiện khí hậu núi cao.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Xây dựng mô hình chăn nuôi bán thâm canh hoặc thâm canh thử nghiệm để đánh giá chính xác tiềm năng di truyền tối đa về tăng trọng và tiêu tốn thức ăn (FCR).
  • Nghiên cứu sâu về các chỉ tiêu thân thịt, tỷ lệ thịt xẻ, thành phần dinh dưỡng và chất lượng thịt của gà Lông Xước.
  • Ứng dụng công nghệ sinh học phân tử để xác định cấu trúc di truyền, chỉ thị phân tử liên quan đến tính trạng lông xước phục vụ công tác chọn lọc nhân thuần và đăng ký bảo tồn quỹ gen quốc gia.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với sinh viên, học viên ngành Chăn nuôi, Thú y và Nông nghiệp: Cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về điều tra nông thôn có sự tham gia (PRA), kỹ thuật theo dõi đánh giá ngoại hình và khả năng sản xuất của gia cầm bản địa.
  • Đối với các nhà nghiên cứu nguồn gen vật nuôi: Bộ dữ liệu thống kê chi tiết về hình thái (mào, da, lông, chân, mỏ, mắt), tăng trọng tuần tuổi (5 - 20 tuần) và các thông số sinh sản là căn cứ đối sánh khoa học với các giống gà nội địa khác của Việt Nam (gà Ri, gà H'Mông, gà Đông Tảo, gà Lông Chân).
  • Đối với cán bộ quản lý nông nghiệp và khuyến nông tại Hà Giang: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy trình kỹ thuật chọn giống hạt nhân, lập kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học theo Nghị quyết số 187/NQ-HĐND của tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Đặc điểm ngoại hình nào giúp phân biệt rõ nhất giống gà Lông Xước với các giống gà bản địa khác tại Việt Nam? Đặc điểm khác biệt tuyệt đối là cấu trúc bộ lông xước, mọc ngược toàn thân như lông nhím, xuất hiện ở 100% cá thể khảo sát từ giai đoạn gà con đến trưởng thành. Về màu sắc, gà trống trưởng thành có màu lông mận đỏ tía (96,02%) kết hợp mào cờ răng cưa, trong khi gà mái có màu lá chuối khô (94,02%) kết hợp mào sít. Cả hai giới đều mang đặc trưng da trắng (trên 93%), chân chì (trên 92%), mỏ đen vàng (trên 96%) và mắt vàng cam (trên 94%).

Cơ cấu đàn và quy mô chăn nuôi gà Lông Xước tại 4 huyện khảo sát của tỉnh Hà Giang đạt mức độ nào? Tổng số gà điều tra tại 216 hộ là 1.185 con, phân bố tại 8 xã thuộc 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Quy mô chăn nuôi còn nhỏ lẻ với trung bình 5,48 con/hộ (tương ứng 1,28 con/nhân khẩu). Cơ cấu tính biệt của quần thể gồm 64,52% gà mái (769 con), 26,49% gà trống (310 con) và 9,00% gà con dưới 4 tuần tuổi chưa phân biệt giới tính (106 con). Xã có số lượng gà ghi nhận lớn nhất là Sà Phìn - Đồng Văn (202 con, chiếm 17,05% tổng đàn).

Khối lượng cơ thể và tốc độ sinh trưởng của gà Lông Xước từ 5 đến 20 tuần tuổi diễn biến ra sao? Lúc 5 tuần tuổi, khối lượng giữa gà trống và gà mái tương đương nhau (268,00 g ở trống và 269,50 g ở mái). Sau đó, gà trống tăng trọng nhanh hơn gà mái: đến 10 tuần tuổi đạt 1.099,12 g (trống) và 809,98 g (mái); đến 17 tuần tuổi đạt 1.649,86 g (trống) và 1.374,74 g (mái); đến 20 tuần tuổi khối lượng tích lũy đạt 1.794,00 g ở gà trống và 1.558,77 g ở gà mái.

Các chỉ tiêu sinh sản cơ bản của giống gà Lông Xước được ghi nhận với số liệu cụ thể như thế nào? Gà trống thành thục sinh dục lúc 138,57 ngày tuổi; gà mái thành thục lúc 141,09 ngày tuổi và đẻ quả trứng đầu tiên lúc 142,64 ngày tuổi. Năng suất đẻ đạt trung bình 6,15 lứa/năm với 15,42 quả trứng/lứa; khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 88,26 ngày; thời gian ấp trứng trung bình là 21,73 ngày và tỷ lệ ấp nở tự nhiên đạt 76,50%.

Đề tài dựa trên căn cứ văn bản pháp lý nào của địa phương về công tác bảo tồn giống gà này? Đề tài được thực hiện dựa trên căn cứ trực tiếp từ Nghị quyết số 187/NQ-HĐND ngày 07/7/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang về quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, trong đó đưa gà Lông Xước vào danh mục nguồn gen động vật bản địa quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lù Thị Thu Thảo đã hoàn thành việc điều tra, đánh giá toàn diện hiện trạng chăn nuôi, đặc điểm hình thái học và các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản của giống gà Lông Xước tại 4 huyện vùng cao tỉnh Hà Giang. Kết quả nghiên cứu khẳng định gà Lông Xước là giống gia cầm bản địa đặc hữu mang kiểu hình lông xước ngược đặc thù, có khả năng thích nghi cao với điều kiện sinh thái vùng núi đá và sở hữu tiềm năng sinh sản ổn định. Bộ dữ liệu định lượng thu thập được là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác tuyển chọn đàn giống hạt nhân và triển khai các chương trình bảo tồn, phát triển nguồn gen vật nuôi quý của tỉnh Hà Giang.