CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu a) Vị trí địa lý Khu hệ sinh thái rừng đầu nguồn tỉnh Nghệ An nằm gọn trong khu vực của khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) miền Tây Nghệ An có tọa độ địa lý: Kinh độ: 103,874345 – 105,500152; vĩ độ: 18,579179 – 19,727594. Với tổng diện tích toàn khu DTSQ là 1.285 ha thuộc địa bàn 9 huyện miền núi (Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Thanh Chương, Tân Kỳ) đồng thời có 440,8 km biên giới hữu nghị với nước CHDC Nhân dân Lào. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) Địa hình Hệ sinh thái rừng đầu nguồn thuộc Khu DTSQ miền Tây Nghệ An có độ cao so với mực nước biển là 2000m.
Kết quả nghiên cứu các đặc điểm địa mạo thuộc các huyện thuộc khu Hệ sinh thái rừng đầu nguồn cho thấy độ cao địa hình nhìn chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Bậc địa hình cao nhất phân bố dọc theo biên giới Việt – Lào thành một dải dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam tạo thành các đỉnh như đỉnh Pù Hoạt, Pù Miêng, Pù Samtie, Pù Tong Chinh, Pù Xông, Pù Xai Lai Leng với độ cao từ 2000-2700 m. Thấp nhất là các bề mặt đáy thung lũng với độ cao từ 0-10 m phân bố dọc theo sông Cả và các sông suối trong khu vực. Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu thực tế, bản đồ địa mạo ảnh, bản đồ trắc lượng hình thái và các tài liệu có trước địa hình khu vực nghiên cứu được chia thành hai nhóm bề mặt địa hình chính: - Nhóm bề mặt nguồn gốc tích tụ: Khu vực nghiên cứu có hệ thống sông suối khá dày đặc song các sông suối đều ngắn, dốc, lòng hẹp, nước chảy xiết do đó ít thuận lợi cho việc hình thành địa hình tích tụ.
Vì lẽ đó địa hình tích tụ chỉ chiếm điện tích rất nhỏ (khoảng 2%), bao gồm bãi bồi, bậc thềm I, bậc thềm II, bậc thềm III, bề mặt tích tụ sườn – lũ tích, bề mặt tích tụ sông – lũ tích. - Nhóm bề mặt nguồn gốc bóc mòn xâm thực: Các bề mặt thuộc nhóm này chiếm diện tích chủ yếu của vùng nghiên cứu bao gồm các bề mặt san bằng và các bề mặt sườn. c) Khí hậu, thủy văn khu vực: Nằm trong Khu DTSQ miền tây nên HST rừng đầu nguồn cũng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông bắc và Tây Nam. Do địa hình của dãy Trường Sơn ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển đã tạo nên sự khác biệt lớn trong phân hoá khí hậu khu vực.
Gió Tây khô nóng: đây là vùng chịu ảnh hưởng có gió Tây khô nóng. Hoạt động của gió Tây thường gây nên hạn hán trong thời kỳ đầu và giữa mùa hè (tháng 5-7). Trong những ngày này nhiệt tối cao có thể vượt quá 40oC và độ ẩm tối thấp xuống dưới 30%. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mưa bão: Vùng này ít chịu ảnh hưởng của mưa bão, hai tháng nhiều bão nhất là tháng 9 và tháng 10.
Bão tuy đã yếu nhưng thường kèm theo mưa lớn và lụt lội. Nhìn chung đây là một trong những vùng có chế độ khí hậu ít thuận lợi của tỉnh Nghệ An. Khu BTTN Pù Huống thuộc khí hậu miền Trường sơn Bắc, miền này có khác với Đông Bắc và Tây Bắc nhưng riêng Pù Huống lại có những đặc thù riêng. Khí hậu không những phân hóa theo độ cao từ 200m đến 1600m mà còn phân hóa do ảnh hưởng yếu dần của mùa Đông Bắc tới sườn Bắc Pù Huống và sườn Nam lại chịu ảnh hưởng của vùng khô hạn điển hình Mường Xén-Kỳ Sơn.
Sự mạnh lên của gió mùa Tây Nam và suy yếu của gió mùa Đông Bắc khi tới Pù Huống tạo nên những nét riêng của Pù Huống. Chế độ nhiệt, mưa ẩm, số ngày mưa và ẩm độ cũng sai khác qua các trạm bao quanh Pù Huống như: Tương Dương, Con Cuông, Quỳ Châu… Chế độ thủy văn khu vực Pù Mát được các trạm thủy văn đo đạc và lưu trữ cho thấy trong khu vực có hệ thống sông Cả chảy theo hướng TB – ĐN. Các chi lưu phía hữu ngạn như Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng lại chảy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả. Dưới góc độ giao thông thuỷ thì cả ba con sông trên đều có thể dùng bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng Khe Choang, Khe Khặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu.
Nhìn chung mạng lưới sông suối khá dày đặc. Với lượng mưa trung bình năm từ 1300-1400 mm, nguồn nước mặt trên diện tích của VQG lên tới hơn 3 tỷ m3. Song lượng nước đó phân bố không đều giữa các mùa và các khu vực nên tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra. Thủy văn vùng Pù Hoạt thuộc là vùng đầu nguồn của hai hệ sông: sông Chu ở phía Bắc bắt nguồn từ phía Tây Pù Hoạt (Lào) với tên là Nậm Xam chảy qua huyện Hửa Phăn, vào Việt Nam với tên là sông Chu, hệ sông Hiếu với các suối Nậm Việc, Nậm Giải, Nậm Quang.
Các hệ suối chính kể trên đều chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cách nhau từ 10 – 25 km. Dòng chảy mạnh, thường xuyên có nước cả mùa khô, mật độ suối nhánh từ 2 – 4 km/suối. Do địa hình chia cắt sâu, đôi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỗ do đứt gẫy mạnh đã hình thành nên nhiều thác nước trong Khu bảo tồn mà thác lớn nhất có giá trị cảnh quan du lịch là thác Sao Va. Những kết quả khảo sát năm 1997 cho thấy rừng Pù Hoạt có bị tác động ở một số điểm ven suối gần làng bản, nhưng tính nguyên sinh còn giữ được ở phần lớn diện tích với tỷ lệ cao.
d) Đất đai Vùng nghiên cứu chủ yếu ở vùng núi đặc điểm của đất bao gồm các nhóm đất sau: Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét: Phân bố trên một phạm vi rộng khắp các huyện, tập trung nhiều ở Tương Dương, Con Cuông, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp. Đất đỏ vàng trên phiến sét có hầu hết ở các loại địa hình nhưng tập trung ở vùng núi thấp, độ dốc lớn, tầng đất khá dày; ở các vùng thấp đất đỏ vàng trên phiến sét gặp nhiều trên các đồi đất, tầng đất mỏng hoặc trung bình. Đất đỏ vàng trên phiến sét ở vùng có thảm thực vật cây bụi là loại đất có độ phì khá, độ mùn từ 2 – 4%, đạm từ 0,1 ÷ 0,25%, lân từ 0,006 ÷ 0,07%, kali từ 1 ÷ 2%, độ chua cao, pHKCL < 4, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét nhẹ, độ dày tầng đất phần nhiều trên 50 cm; ở trên các vùng có thảm thực vật là cỏ và đất hoang hoá (do bị xói mòn mạnh) tầng đất thường mỏng từ 30 ÷ 50 cm. Đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết: Phân bố rải rác theo dải hẹp xen giữa các dải đất phiến thạch kéo dài theo hướng Tây bắc – Đông nam của tỉnh qua nhiều huyện miền núi và trung du như Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ, Tương Dương, Kỳ Sơn,… Do thành phần cơ giới tương đối nhẹ hơn so với đất phiến thạch sét nên đất vàng nhạt trên sa thạch thường bị xói mòn mạnh, tầng đất tương đối mỏng và nhiều nơi trơ sỏi đá.
Chỉ có một số nơi địa hình núi cao, thảm thực vật che phủ khá mới có độ dày tầng đất từ 50 ÷ 70 cm. Đất vàng nhạt trên sa thạch thường nghèo dinh dưỡng, ở các vùng núi cao lượng mùn từ 1,5 ÷ 2,5%; ở vùng thấp lượng mùn thường không quá 1,5%. Các chỉ tiêu như đạm, lân, kali điều nghèo, độ chua cao pHKCL < 4, độ bazơ thấp, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến cát pha, hạt rời rạc, khả năng giữ nước và kết dính kém, thành phần keo sét thấp, khả năng giữ màu kém. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đất vàng đỏ phát triển trên các đá axit: Phân bố rải rác ở các huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Châu,… Phần lớn đất vàng đỏ trên đá axit có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, bị xói mòn rửa trôi mạnh, độ chua lớn (pHKCL < 4), ít có nghĩa trong sử dụng sản xuất nông nghiệp.
Đất đỏ nâu trên đá vôi: Phân bố rải rác ở các huyện: Tân Kỳ, Nam Đàn, Quỳ Hợp,… Ngược lại với các loại đất khác, đất đỏ nâu trên đá vôi ở các vùng địa hình thấp thường có tầng dày hơn; ở vùng núi cao đất đá vôi bị phong hoá và rửa trôi mạnh nên tầng đất mỏng hơn. Tuy nhiên, phần lớn đất đá vôi có độ dày tầng đất khá thường trên 50 cm, độ phì ở đất đá vôi khá, mùn từ 2 ÷ 4%; đạm trên 0,15%, đất chua pH < 4, độ no bazơ nhỏ dưới 50%. Đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao: Đất Feralit vùng đồi: Tập trung ở Thanh Chương và Anh Sơn, phần lớn là đồi trọc, hoặc có cây bụi do rừng bị tàn phá. Do đất bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên ít mùn (<2%), độ chua cao (pH = 4 ÷ 4,5), có hiện tượng đá ong hoá mạnh.
- Đất Feralit vùng núi thấp có thảm thực vật che phủ tương đối cao. Do sườn núi dốc mạnh, nước ngầm không đọng lại trong đất, dòng nước ngầm chảy mạnh, nên các dạng kết vón và tầng đá ong không phát triển được. Hàm lượng mùn 2 ÷ 4%; đạm tổng số 0,1 ÷ 0,25%; lân tổng số 0,06 ÷ 0,07%; kali tổng số 1 ÷ 2%; độ chua thuỷ phân 6,61đl ÷ 15đl/100g đất, tổng số cation trao đổi 91đl ÷ 14đl/100g đất, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét nhẹ, độ dày tầng đất phổ biến trên 50 cm, ở các nơi đồi trọc, đất hoang hoá, tầng đất mỏng hơn (30 cm –50 cm). Đất Feralit trên núi cao do khí hậu mang tính á nhiệt đới, độ ẩm tăng do mưa nhiều, rừng bị tàn phá, thực vật còn nhiều, trong đó số lượng cây rụng lá tăng lên nên hàm lượng mùn cao (5 – 8%).
- Đất Feralit mùn trên núi cao: có ở độ cao từ 1800 m trở lên, khí hậu mang tính á ôn đới rõ rệt, có thời gian nhiệt độ hỗn giao giữa chất hữu cơ được phân dải rất chậm nên lượng mùn cao (8 – 12%). Đất xốp, giữ nước mạnh, kết cấu tốt. Đất phù sa: Phân bố rải rác ở các sông như: sông Cả, sông Giăng, sông Con.