Chương 1: Tổng quan nghiên cứu 5 Giới thiệu về lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng; phương pháp nghiên cứu để xem xét, đánh giá sự hài lòng của khách hàng và tính mới của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Trình bày tham khảo Một số mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ nói chung và các dịch vụ tại cảng tổng hợp nói riêng. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện để đánh giá thang đo, các khái niệm nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, thiết kế bản câu hỏi khảo sát, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu.
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện qua hai bước nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính thông qua thảo luận nhóm. Nghiên cứu chính thức (phương pháp định lượng): nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện bằng phương pháp định lượng qua phỏng vấn trực tiếp bảng câu hỏi. Các thang đo này được kiểm định tiếp tục bằng phương pháp Cronbach’s Alpha, EFA để loại những biến rác, không phù hợp.
Phân tích hồi quy tuyến tính bội được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Toàn bộ quá trình phân tích dữ liệu sử dụng phần mềm SPSS 22. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Kết quả khảo sát thực nghiệm và thảo luận: Trình bày về phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu bao gồm: Mô tả mẫu; Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA; phân tích hồi quy; các kiểm định khác Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 Trình bày kết luận và kết quả nghiên cứu, các kiến nghị hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Dịch vụ và Dịch vụ khai thác cảng 2.1 Dịch vụ Hiện nay có rất nhiều khái niệm định nghĩa khác nhau về dịch vụ tuy nhiên các khái niệm đều nhằm mục đích truyền tải những nội dung cơ bản về dịch vụ: Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra theo Philip Kotler và cộng sự (2005), dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Theo Kotler và Armstrong (1991), dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, cách thức, quá trình thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Gronoos (1990) dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ.
Hay “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu”.2 Dịch vụ khai thác cảng: Dịch vụ khai thác cảng là những dịch vụ đón tàu cập/rời cầu, bốc xếp, chằng buộc, kiểm điếm hàng hoá; vận tải đường bộ; vận tải đường thuỷ; vận chuyển hàng hoá cho các dự án; dịch vụ khai thuê hải quan; đại lý giao nhận; cho thuê kho bãi, văn phòng, phương tiện thiết bị; lưu kho, lưu bãi và các dịch vụ. Bên cạnh đó còn có các dịch vụ liên quan như dịch vụ cung cấp tàu lai dắt cho tàu hàng, tàu container tàu ra vào dock sửa chữa, bảo dưỡng và sửa chữa SPM, Jetty; xử lý sự cố tràn dầu; trực an toàn, an ninh, chữa cháy.3 Đặc điểm của các dịch vụ khai thác cảng 2.1 Đặc điểm của dịch vụ nói chung Dịch vụ có những đặc điểm khác biệt so với những sản phẩm khác như vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời và không lưu trữ được như sau (Ghobadian, Speller & Jones, 1993; Groth & Dye, 1994; Zeithaml và các cộng sự, dẫn theo Thongsamax, 2001): 2.1 Tính vô hình Thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ. Tính không hiện hữu của dịch vụ gây nhiều khó khăn cho quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ và khó khăn hơn cho việc nhận biết dịch vụ. Shostack (1977, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998) cho rằng không có sự vật/việc đơn thuần là sản phẩm hay dịch vụ và ông cho rằng có một sự diễn tiến liên tục giữa sản phẩm hữu hình và dịch vụ vô hình.
Zeithaml và Leonard L. Berry (1985) cũng bình luận về tính vô hình có nghĩa là “Hầu hết các dịch vụ không thể đo, đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo chất lượng dịch vụ”.2 Tính không đồng nhất 9 Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ. Thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người sử dùng – nhưng sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ cũng rất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều. Sản phẩm dịch vụ có giá trị khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng.
Do vậy trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện cá nhân hóa, thoát ly khỏi quy chế, điều đó càng làm tăng thêm mức độ khác biệt. Dịch vụ vô hình ở đầu ra nên không thể đo lường và quy chuẩn được.3 Tính không thể tách rời Quá trình cung cấp và thực hiện dịch vụ diễn ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ sẽ bắt đầu cung cấp dịch vụ thì đó cũng là lúc người sử dụng bắt đầu quá trình sử dụng dịch vụ, và khi mà người sử dụng dịch vụ chấm dứt quá trình sử dụng dịch vụ của mình thì đó cũng là lúc mà người cung cấp dịch vụ chấm dứt quá trình cung cấp dịch vụ.4 Tính không lưu trữ được Hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không lưu trữ những dịch vụ nhưng họ lưu trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo.2 Chất lượng dịch vụ 2.1 Chất lượng dịch vụ Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu về chất lượng dịch vụ nói chung.
Theo Wismiewski, M&Donnelly (2001), chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu, nó thể hiện mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của khách hàng. 10 Theo Zeithaml (1996), giải thích chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một dịch vụ. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được. Lewis và Booms (1983) phát biểu: Dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu.
Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất. Chất lượng dịch vụ thường được xem là một yếu tố tiên quyết, mang tính quyết định đến sự cạnh tranh để tạo lập và duy trì mối quan hệ với khách hàng. Quan tâm đến chất lượng dịch vụ sẽ làm cho một tổ chức khác với những tổ chức khác đạt lợi thế cạnh tranh trong lâu dài (Morre 1987). Theo Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ.
Parasuraman, Zeithaml and Berry (1985, 1988) định nghĩa “Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ”. Nhận định này cứng tỏ rõ rằng chất lượng dịch vụ liên quan đến những mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ. Parasuraman (1991) giải thích rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong đợi của khách hàng là cần thiết.
Và ngay sau đó ta mới có một chiến lược chất lượng dịch vụ có hiệu quả.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Trong vài thập kỷ qua các công ty cung cấp dịch vụ cảng biển thương mại đã nhận thức tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ để đạt các lợi thế cạnh tranh. Theo nghiên cứu của Thái Văn Vinh & Devinder Grewal (2005) về chất lượng dịch vụ 11 cảng biển thương mại tại Úc, chất lượng dịch vụ cảng biển thương mại còn có một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ như sau: - Cơ sở vật chất: sự bày trí sắp xếp nơi tiếp nhận, thuận tiện để giao tiếp, tính sẵn sàng của trang thiết bị, điều kiện trang thiết bị, khả năng theo dõi hàng hoá, cơ sở hạ tầng. - Thái độ phục vụ của nhân viên, tốc độ thực hiện dịch vụ, tính tin cậy của dịch vụ, cung cấp dịch vụ đồng nhất, đảm bảo an toàn cho khách hàng, sự đa dạng hoá và sẵn sàng của dịch vụ. - Thao tác nghiệp vụ của nhân viên, trong đó “thao tác nghiệp vụ của nhân viên” có ảnh hưởng mạnh nhất.