Chương 1 đưa ra thông tin về bối cảnh của cuộc nghiên cứu đồng thời đưa ra vấn đề bàn luận cùng với hai câu hỏi nghiên cứu, hai mục đích nghiên cứu, những giới hạn và ý nghĩa của cuộc nghiên cứu này. - Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lí thuyết thông qua đó xem xét hình thành và phát triển của các lí thuyết liên quan đến các biến số trong bài nghiên cứu. Bên cạnh đó, nội dung trong chương 2 đưa ra các luận cứ cũng như khung tham chiếu cho các biến số trong bài nghiên cứu về phân tích và đánh giá giáo trình Q-Skills for success (Listening and Speaking 4,5) trong việc cải thiện kỹ năng nghe của sinh viên năm hai ngành Ngôn Ngữ Anh, Khoa Ngoại Ngữ, trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. - Nội dung của chương 3 đưa ra các phương pháp được sử dụng để xử lí dữ liệu thu thập trong quá trình thực hiện.
- Trong chương 4, các số liệu đã được phân tích - Chương 5, bàn luận về kết quả từ những số liệu đã được phân tích ở trên mang lại. Từ đó, đối chiếu với cơ sở lý thuyết ở chương 2. 21 - Nội dung của chương 6 là phần kết luận nội dung cũng như kết quả của quá trình nghiên cứu nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. Qua đó, đưa ra phân tích chính xác về giáo trình Q-Skills for success (Listening and Speaking 4,5).
22 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, đề tài nghiên cứu sẽ tập trung vào xây dựng, phân tích và chứng minh cơ sở lý thuyết ban đầu bằng cách dựa trên những nhận định có sẵn từ các chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu về đề tài nghe hiểu tiếng anh, các tờ báo, trang mạng đáng tin cậy bao gồm định nghĩa kĩ năng nghe hiểu tiếng anh (định nghĩa kĩ năng nghe, hiểu, bản chất của việc nghe hiểu) đồng thời tập trung phân tích các yếu tố (khách quan và chủ quan) ảnh hưởng đến kĩ năng nghe và tìm hiểu các dạng bài tập nghe phổ biến thường gặp trong quá trình học nghe hiểu tiếng anh, các hoạt động nghe trong lớp, cũng như các tiêu chí đánh giá giáo trình để từ đó có những bàn luận và kiến nghị tối ưu nhất giúp cái thiện kĩ năng nghe cho sinh viên.1 Định nghĩa kĩ năng nghe hiểu 2.1 Định nghĩa kĩ năng nghe Theo từ điển Oxford living dictionary thì nghe là một quá trình tiếp nhận âm thanh truyền đến. Tuy nhiên, đối với trang thông tin trực tuyến English Club đã cụ thể hoá cho việc nghe trang đã đề cập đến vấn đề nghe theo cách tiếp cận về ngôn ngữ: theo đó, nghe là quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thông qua chuyển đổi mã hoá thông tin thành dạng thông tin vô hình và chuyển lên não. Khi nghe ta sử dụng tai (thính giác) để nhận biết (âm, chữ, dấu nhấn trọng âm, giọng điệu và cách ngắt nhịp và dùng não chuyển hoá những phần thông tin này thành dạng ngôn ngữ mà chúng ta dùng để truyền đạt thông tin. Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm (1977) trong ‘Từ điển tiếng Việt’ đưa ra luận điểm về việc nghe cụ thể như sau: ‘Nghe là một quá trình trong đó thính giác tiếp nhận những âm thanh bên ngoài và chuyển nó đến hệ thống thần kinh trung ương.
Tại đây, những âm thanh này được phân tích, chuyển thành những tín hiệu và được truyền đến các giác quan giúp hình thành những phản xạ của con người đối với những âm thanh đó.’ Tiếp theo sau đó khi bàn về vấn đề nghe, Purdy, M. (1997) đã đưa ra luận điểm trong cuốn sách Listening in everyday life: A personal and professional approach (2nd ed.) cụ thể, theo tác giả nghe là quá trình tiếp thu năng động của việc lĩnh hội ngôn ngữ, mã hoá ngôn ngữ ghi nhớ ngôn ngữ và phản hồi lại theo 2 hướng ngôn ngữ chính là bằng lời (verbal) và không 23 bằng lời (non-verbal) những thông tin cần thiết, muốn truyền tải thể hiện ý nghĩa đối với người khác Ngoài ra, Rost (2002) cũng bổ sung thêm việc lắng nghe là quá trình tiếp nhận điều mà người nói thực sự đang truyền tải, hình thành là tái tạo lại những thông tin đưa vào (input) theo dạng ngôn ngữ ở trong não. Và tiếp đó, khi bàn về vấn đề nghe, Đỗ Quang Việt đã đăng trên tạp chí nghiên cứu khoa học của đại học Ngoại Ngữ (Quốc Gia Hà Nội) số đăng ngày 01-06-2007(84-93) thì nghe cấu thành đồng thời từ 2 giai đoạn: cảm nhận và tri nhận, 2 giai đoạn này tồn tại, tác động bổ sung cho nhau và gắn kết nhau. Theo như phát biểu, giai đoạn cảm nhận đòi hỏi tai (đảm nhiệm chức năng thính giác) phải nhạy cảm với xung âm thanh và quá trình cảm nhận âm thanh này diễn ra rất nhanh và là tiền đề, cơ sở không thể nào thiếu được của quá trình tri nhận.
Tri nhận là quá trình đơn giản nhưng lại phức tạp nhất bao gồm 3 giai đoạn chính, mở đầu là quá trình xử lý âm chính giữa nguyên âm và phụ âm hay còn gọi là khu biệt, quá trình thứ 2 là quá trình chuyển hoá, mã hoá và xử lý các vùng âm lân cận (cận ngôn) và chuyển hoá thành dạng thông tin A. Giai đoạn cuối cùng là chuyển hoá dạng thông tin A thành dạng thông tin lưu trữ A' dựa theo kiế n thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn hoá văn minh đã tiế p thu đươ ̣c từ trước. Sau giai đoạn tri cảm là giai đoạn ghi nhớ, ở giai đoạn này, các tín hiệu âm thanh đã được mã hoá (A' được ghi lại trong não bộ (dạng âm thanh) làm cơ sở cho mã hoá thông tin dưới dạng ghi nhớ (dạng hình ảnh) (B) (Hình 1 – Phụ lục 1) Bên cạnh đó năm 2011 khi bàn về theo Pourhossein Gilakjani and Ahmadi (2011) thì ngoài việc tiếp nhận và mã hoá thông tin như trên, nghe còn liên quan đến vấn đề lắng nghe cảm nghĩ, cảm xúc, lắng nghe cảm giác và tâm tư tình cảm đồng thời còn lắng nghe dự định của người nói mà việc này đòi hỏi sự tập trung nỗ lực và luyện tập của người nghe Tóm lại, theo các định nghĩa trên, người đọc có thể thấy rằng Nghe là 1 hoạt động da dạng, phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau và nhiều bộ phận cùng tiếp nhận các phần của hoạt động nghe khác nhau và mỗi bộ phận có 1 chức năng khác nhau cùng hỗ trợ và thông qua các giai đoạn đó ( bằng việc tiếp nhận thông tin xử lý ở tai và việc ghi nhớ lại thông tin đó trên não bộ ở dạng mã hoá) người nghe phải lắng nghe và ghi nhớ lại các thông tin của người nói mà việc này đòi hỏi sự luyện tập, khả năng tập trung cao độ.2 Định nghĩa nghe hiểu Trong cuốn sách Listening được phát hành vào năm 1988, Anderson và Lynch đã chỉ ra rằng để nghe hiểu thành công người nghe đóng vai trò rất quan trọng bổi vì người nghe phải biết vận dụng kiến thức sẵn có của chính mình để có thể nghe và hiểu người nói. Như Mendelsohn đã viết trong cuốn sách Learning to Listen: A Strategy-based Approach for the Second Language Learner (1994) người nghe giỏi ngoài khả năng giải mã ẩn ý của người nói còn phải có khả năng xử lý hình thái ngôn ngữ học như là tốc dộ lời nói và những từ hoặc cụm từ dùng để lấp đầy sự im lặng, lắng nghe để tương tác, hiểu toàn bộ nội dung của bài diễn thuyết mà không nhất thiết phải hiểu từ và nhận biết các loại từ của nó.
Theo Rost (2002): Nghe là quá trình tiếp nhận thông tin từ người nghe hình dung và hình thành được nghĩa, đồng thời tranh luận với người nói và đưa ra phản hồi cũng như thấu hiểu ý nghĩa thông qua vấn đề đang nói tới, tượng tưởng và sự thấu cảm. để nghe tốt, người nghe phải có khả năng giải mã thong tin, khả năng áp dụng các chiến thuật và quá trình tương tác hiểu nghĩa, khả năng phản hồi bằng nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào mục đích giao tiếp. Đỗ Quang Việt (2007) đưa ra nhận định: Trong các ki ̃ năng thực hành, Nghe hiể u là một ki ̃ năng giao tiế p thu ̣ động, là một quá trình mã hoá và giải ma,̃ trong đó nghe thuộc pha ̣m trù tiế p nhận, mã hoá các tín hiệu ngôn ngữ dưới da ̣ng âm thanh phát ra với tư cách là yế u tố có nghiã , hiể u thuộc pha ̣m trù lí giải hay giải mã các tín hiệu ngôn ngữ đã đươ ̣c mã hoá. Có một yế u tố vô cùng quan tro ̣ng gắ n kế t nghe và hiể u ta ̣o ra một chu trin ̀ h khép kin ́ đó là ghi nhớ hay lưu trữ thông tin mã hoá.
Có thể nói Nghe và hiể u là hai mặt biện chứng của một quá trin ̀ h phức hơ ̣p, chế đinh ̣ hiể u, ngươ ̣c la ̣i hiể u có tính độc ̣ lẫn nhau; nghe là cơ sở quyế t đinh lập tương đố i tác động trở la ̣i bổ sung cho nghe.3 Bản chất của Nghe-hiểu Định nghĩa: Theo như Tiến sĩ Giáo sư Henry Erhamwenmwonyi Asemota đăng tải trên tạp chí Giáo Dục Anh (British Journal of Education) số 3 (22-33) với tựa đề Nature, importance and practice 25 of listening skill thì bản chất của kĩ năng nghe là việc tiếp nhận âm thanh và điều chỉnh chúng bằng thính giác, là quá trình nhận biết xung âm thanh và chuỗi âm thanh dưới dạng từ ngữ, câu và điều chỉnh thay đổi chúng và truyền dịch chúng dưới dạng ngữ nghĩa. Nói theo cách khác, bản chất của việc nghe là việc truyền tín hiệu thông qua dạng lời nói đến tai và thông qua xung thần kinh và chức năng thính giác truyền đạt đến não bộ tiếp nhận thông tin, xử lý âm thanh( tiếng ồn, âm thanh, ngôn ngữ) trong phần não và mã hoá thành thông tin đưa ra ngoài. Và theo như Goffman (1967) thì để thực hiện được quá trình nghe cần phải có 2 yếu tố: Yếu tố thứ 1: người nói phải đo lường được sự mô tả của họ Yếu tố thứ 2: người nghe phải chú tâm vào vấn đề đang được bàn luận Nếu như cả người nghe và người nói đều lĩnh hội được 2 yếu tố này thì đây là phương tiện để tạo thành 1 chất xúc tác cho pháp cả người nghe và người nói đạt đến sự hiểu quả giao tiếp với các ngôn ngữ khác nhau.