CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về giao dịch bảo đảm 1. Cơ sở lí luận của giao dịch bảo đảm Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như các văn bản liên quan chưa đưa ra định nghĩa thế nào là “Biện pháp bảo đảm”. Tuy nhiên, qua nội hàm từ ngữ cũng như các quy định pháp luật, có thể hiểu rằng: Biện pháp bảo đảm là những cách thức, giải pháp nhằm hỗ trợ, khẳng định, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, thỏa thuận một cách chắc chắn.
Biện pháp bảo đảm đi liền, không tách rời với nghĩa vụ chính trong hợp đồng, giao dịch chính. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết, thì bên có quyền có thể áp dụng biện pháp bảo đảm đã thỏa thuận hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết nhằm bảo đảm quyền lợi cho mình. Theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015, có các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: 1. Cầm cố tài sản; 2.
Thế chấp tài sản; 3. Bảo lưu quyền sở hữu; 7. Cầm giữ tài sản. Các biện pháp bảo đảm được quy định cụ thể tại mục 3 (từ Điều 292 đến Điều 350) của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong đó: - Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại. Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện. Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành 5 trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. - Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản. Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản. Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác.
Trường hợp các bên muốn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn thì có thể thỏa thuận về việc bên bảo đảm dùng tài sản khác để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn. - Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm. Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan. Quyền truy đòi tài sản bảo đảm được quy định cụ thể tại Điều 7 Nghị định 21/2021/NĐ-CP.
Theo đó, quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm trong biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba không thay đổi hoặc không chấm dứt trong trường hợp tài sản bảo đảm bị chuyển giao cho người khác do mua bán, tặng cho, trao đổi, chuyển nhượng, chuyển giao khác về quyền sở hữu; chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài 6 sản bảo đảm không có căn cứ pháp luật và không thuộc trường hợp sau đây: a) Tài sản bảo đảm đã được bán, được chuyển nhượng hoặc đã được chuyển giao khác về quyền sở hữu do có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm và không được tiếp tục dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận; b) Tài sản thế chấp được bán, được thay thế hoặc được trao đổi theo quy định tại khoản 4 Điều 321 của Bộ luật Dân sự; c) Tài sản bảo đảm không còn hoặc bị thay thế bằng tài sản khác; d) Trường hợp khác theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan. Trường hợp bên bảo đảm là cá nhân chết, pháp nhân chấm dứt tồn tại thì quyền truy đòi tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm không chấm dứt nhưng thực hiện theo quy định tại Điều 658 của Bộ luật Dân sự và quy định khác về thừa kế của Bộ luật Dân sự trong trường hợp bên bảo đảm là cá nhân chết hoặc thực hiện theo quy định của pháp luật về giải thể pháp nhân, phá sản trong trường hợp bên bảo đảm là pháp nhân bị giải thể, bị tuyên bố phá sản.Khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất Đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm. Các tài sản dùng bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trong giao dịch bảo đảm có thể có trước khi thông tin được ghi vào Sổ, hay nhập vào cơ sở dữ liệu hoặc được xác lập sau khi cơ quan đăng ký ghi thông tin về các giao dịch bảo đảm vào Sổ đăng ký, nhập vào cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật (Chính phủ, 2022). Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 102/2017/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Thông tư 07/2019/TT-BTP ngày 25/11/2019 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Hồ sơ đăng ký giao dịch bảo 7 đảm bằng quyền sử dụng đất gồm có: Đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm; Hợp đồng bảo đảm hoặc hợp đồng bảo đảm có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc các Giấy chứng nhận đã cấp qua các thời kỳ; Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người yêu cầu đăng ký; trường hợp người yêu cầu đăng ký là người được ủy quyền thì phải có Văn bản ủy quyền. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất sẽ ghi nội dung đăng ký giao dịch bảo đảm vào Giấy chứng nhận, Sổ địa chính, Sổ theo dõi biến động đất đai theo quy định của pháp luật. Cơ sở thực tiễn của giao dịch bảo đảm Thực hiện nói, giai đoạn vừa rồi, hoạt động đăng ký GDBĐ có ý nghĩa rất chủ chốt trong việc công khai và minh bạch các GDBĐ.
Thứ nhất, làm cho người dân và những doanh nghiệp có thêm cơ hội đến gần với những nguồn vốn nhằm tăng trưởng sản xuất, kinh doanh. Thứ hai, việc đăng ký GDBĐ cũng làm cho những nhà đầu tư, những đơn vị tín dụng, đơn vị và cá nhân khác có nguồn dữ liệu để xem xét, tìm hiểu trước khi nghiên cứu, quyết định ký kết hợp đồng nói chung cũng như thực hiện đầu tư và cho vay nói riêng (Phạm Phương Nam, Nguyễn Thanh Trà, Phan Thanh Huyền, 2013). Mặc dù vậy, hoạt động đăng ký GDBĐ vẫn tồn tại một số nhược điểm là các tiêu chuẩn về đăng ký GDBĐ được ghi rõ không tập trung tại không ít giấy tờ làm cho việc tìm kiếm, sử dụng pháp luật còn gặp không ít khó khăn. Đối với tài sản bảo đảm là bất động sản thì thực hiện đăng ký tại Văn phòng đăng ký QSD đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện.
Hiện nay đang tồn tại một hiện thực là, có doanh nghiệp phải thế chấp, cầm cố không ít tài sản để chắc chắn thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại một ngân hàng thì doanh nghiệp được đòi hỏi phải đi đến không ít cơ quan để tiến hành việc đăng ký GDBĐ. 8 Ở vài tình huống, thời gian tiếp nhận hồ sơ đăng ký GDBĐ chưa thực hiện theo quy định, một số cơ quan lại quy định một cách không mềm dẻo là chỉ tiếp nhận hồ sơ vào vài ngày nhất định trong tuần, gây ra khó khăn cho người đi đăng ký (Nguyễn Thanh Trà, 2013), (Nguyễn Đình Bồng, 2009). Cơ sở pháp lí của đề tài * Các văn bản luật - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Luật Đất đai năm 2003.
- Luật Đất đai năm 2013. - Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015. * Các văn bản dưới luật - Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, quy định cụ thể thực hiện một số điều của Luật Đất đai năm 2013. - Chính phủ (2017), Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017, về đăng ký biện pháp bảo đảm.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 23/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 24/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính. - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số: 25/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về bản đồ địa chính. - Chính phủ (2022), Nghị định số 99/2022/QĐ – CP ngày 30/11/2022 quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm- Quyết định số 702/QĐ-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch chung thành phố Hạ Long đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.