Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Một số mô hình CSDL địa chính đã sử dụng ở nước ngoài Tại Mỹ [TA-13] người ta sử dụng CSDL đa chức năng phục vụ công tác quản lý đất đai. Tại úc [TA-6] người ta sử dụng CSDL địa chính đa chức năng nhằm cung cấp thông tin đa mục tiêu cho công tác quản lý.1 là sơ đồ về mô hình liên kết và khả năng cung cấp thông tin của CSDL địa chính đa mục tiêu ở Úc.
Như đã nêu ở trên mô hình này rất phù hợp cho các nước đang phát triển vì hầu hết các nước này đang từng bước xây dựng và phát triển CSDL địa chính, hoàn thiện dần CSDL quản lý đất đai; dạng mô hình này phù hợp và thích ứng về cả hai mặt tích tụ thông tin và trình độ công nghệ thông tin. Title §Þnh gi¸- MB trao ®æi ®Êt QH së h÷u QH vïng HT sö dông UB ®Þnh gi¸ TT kh¸c Provider #3 ? Things we Provider #2 TT DÞch vô ®o vÏ Click here! Click here! B¶n ®å-thña GT& H¹ tÇng QPLý & §T− GD&TH M«i truêng Tµi nguyªn TK-TP Hình 1. CSDL địa chính đa mục tiêu (mô hình của úc) - 17 - n Nhằm đáp ứng được nhu cầu về công tác quản lý đất đai và bất động sản, đặc biệt tại khu vực đô thị, nhiều nước sử dụng CSDL đa chức năng có cấu thành cơ bản là CSDL bản đồ (các loại bản đồ địa chính, địa hình, chuyên đề, ảnh hàng không, viễn thám.) và một số CSDL thành phần phục vụ quản lý đa mục tiêu, trong đó mục tiêu cơ bản là quản lý đất đai và bất động sản. Có thể xem minh hoạ từ CSDL đa chức năng tại Thụy Điển [TA-4], quản lý bất động sản và đất đai được kết hợp với việc xây dựng một hệ thống CSDL đa chức năng gồm một số CSDL dùng chung: CSDL bản đồ gồm bản đồ địa chính, bản đồ sử dụng đất, ảnh.
CSDL bất động sản, CSDL công ty, doanh nghiệp, CSDL dân số, CSDL lao động, việc làm, CSDL nhà và công trình - địa chỉ, các dữ liệu thông tin khác (hình 1. Nhµ cho thuª BTTN QuÈn lý CVCX M«I tr−êng D−êng d©y/ TT DU LÞCH èng dÉn B¶n ®å D©n sè GIS 1:1 C-TY- Doanh nghiªp BÊT §éNG S¶N Cung cÊp Result ®C-Khãa m· n−íc s¹ch H×nh I-5-1 CSDL ®Þa lý c¬ së ®a chøc n¨ng t¹i Thuþ §iÓn L§ ViÑc lµm Nhµ vµ ®Þa chØ T¹i Bang Victoria HC t−êng hoc ë óc thiÕt lËp®éng TT BÊt CSDLs¶n c¬ b¶n víi t¸ms¶n bÊt ®éng CSDL thuéc c¬ nhµ b¶n n−íc Ql C«ng c©y xanh KH AT Gt Tr¦êng häc Cung cÊp n−íc QH - PTCT Qu¶n lý rõng Nhµ cho thuª §−êng d©y èng ®·n Hình 1. Cơ sở dữ liệu địa lý mở rộng phục vụ quản lý địa chính và bất động sản tại Thuỵ Điển - 18 - n 1. Một số kết quả đề tài dự án liên quan đã nghiên cứu trong nước Theo các kết quả nghiên cứu có liên quan gồm: 1.
Dự án: Hệ thống thông tin tài nguyên đất. Theo kết quả dự án “Hệ thống thông tin tài nguyên đất” (năm 1999) [TL-2] - Tổng cục Địa chính, đã đưa ra mô hình hệ thống thông tin tài nguyên đất cho cả nước trong đó: Nội dung thông tin của CSDL tài nguyên đất đai bao gồm 2 phần thông tin có tính chất khác nhau: Một là các thông tin vi mô tới từng thửa đất do cơ quan địa chính ở địa phương đảm nhiệm, hai là các thông tin vĩ mô về các loại đất do cơ quan địa chính ở trung ương đảm nhiệm. Phần thông tin vĩ mô không chỉ bao gồm các lớp thông tin về loại đất mà còn phải chứa cả các lớp thông tin về địa hình, địa giới, thực phủ, giao thông, thuỷ văn, dân cư v. Các thông tin này mang tính chất của các thông tin địa lý nhiều hơn, vì vậy có thể gọi phần thông tin vĩ mô là thông tin địa lý.
Tương tự phần thông tin vi mô gọi là thông tin đất đai. Dự án cũng đưa ra rất nhiều định hướng quan trọng về nội dung các thông tin trong CSDL, luồng thông tin đầu vào và đầu ra, phân loại tổng quát về các dạng thông tin. CSDL của hệ thống thông tin tài nguyên đất đai nên tổ chức ở dạng CSDL phân tán. Cả nước sẽ có 61 CSDL (số liệu năm 1999) cấp tỉnh chứa các thông tin đến từng thửa đất và một số CSDL thành phần thuộc Tổng cục Địa chính chứa các thông tin đến từng mục đích sử dụng đất và các thông tin địa lý.
Các CSDL này được nối với nhau bằng mạng lưới cáp truyền thông quốc gia. Dữ liệu được tổ chức theo một chuẩn thống nhất cho mọi CSDL. Dự án: “dự án thử nghiệm xây dựng mô hình thông tin địa chính với thị trường bất động sản tại khu vực đô thị” - Bộ Tài Nguyên và Môi trường, do Viện Nghiên cứu Địa chính thực hiện – 2007. [TL-5] - 19 - n Dự án có mục tiêu: Nghiên cứu thực tiễn nhu cầu thông địa chính với thị trường bất động sản; xây dựng nhóm thông tin địa chính mở rộng phục vụ thị trường bất động sản tại khu vực đô thị; xây dựng và thử nghiệm mô hình thu thập và cung cấp thông tin địa chính mở rộng bảo đảm cung cấp thông tin hỗ trợ phát triển thị trường, tạo ra khả năng xã hội hoá thông tin địa chính, công khai minh bạch thông tin phát triển các dự án bất động sản.
Theo kết quả dự án: Đã tiến hành “Hội thảo về địa chính với thị trường bất động sản lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, hội thảo đã được các nhà quản lý, các nhà khoa học tham gia trình bầy các báo cáo khoa học về các nội dung liên quan; hội thảo đã tổng kết và nêu bật được những vấn đề lý luận và thực tiễn, vai trò của địa chính với thị trường bất động sản, trong đó đã phân tích khả năng sử dụng thông tín địa chính đáp ứng nhu cầu hoạt động thị trường bất động sản, tiền đề quan trọng của dự án thử nghiệm xây dựng mô hình thông tin địa chính với thị trường bất động sản tại khu vực đô thị. Đã tiến hành khảo sát nhu cầu cung cấp thông tin địa chính với thị trường BĐS; phân tích các nhu cầu thông tin địa chính với thị trường bất động sản đã chỉ ra nhu cầu chung nhất của các nhóm có nhu cầu sử thông tin địa chính phục vụ thị trường bất động sản, đó là cung cấp các thông tin không gian và phi không gian của các thửa đất có trong cơ sở dữ liệu địa chính; mở rộng thông tin xây dựng vùng giá trị theo đường phố bảo đảm tính giá đất và nhà là nhu cầu thông tin phổ cập nhất của thị trường bất động sản, tiến đến xây dựng mô hình quản lý liên kết, tìm kiếm và cung cấp thông tin địa chính phục vụ thị trường bất động sản. Thực nghiệm mô hình thông tin địa chính với thị trường bất động sản tại khu vực đô thị cụ thể trên địa bàn một số phường tại thành phố Hà Nội, thành - 20 - n phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng; xây dựng mô hình cung cấp thông tin địa chính số phục vụ phát triển thị trường bất động sản. Đề tài “ Cơ sở khoa học và phương pháp xây dựng vùng giá trị đất đai” - Bộ Tài Nguyên và Môi trường, do Viện Nghiên cứu Địa chính thực hiện.
Đề tài đã giải quyết các vấn đề về: ứng dụng CSDL địa chính và hệ thống thông tin địa lý trong quản lý vùng giá và định giá đất; các luận cứ cơ bản của việc xây dựng vùng giá trị đất dưới tác động của các nhóm yếu tố: kinh tế trong sử dụng đất; yếu tố quy hoạch và hạ tầng kỹ thuật; các yếu tố khác như xã hội, môi trường, văn hoá, du lịch … đến vùng giá trị đất. Sử dụng Bản đồ địa chính làm dữ liệu nền phục vụ điều tra xác định vùng giá trị đất trên các quận huyện đã điều tra quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng tỷ lệ 1/2000; và 1/5000 khu vực huyện Từ Liêm; Đề xuất phương pháp và quy trình xác định vùng giá đất từ bản đồ địa chính với trợ giúp của hệ thống thông tin địa lý; Xây dựng phần mềm quản lý và hỗ trợ tính giá đất từ vùng giá đất. Các mô hình khác: Ngoài các mô hình quản lý trên, ở một số địa phương cũng đưa ra một số mô hình ứng dụng khác về quản lý dữ liệu địa chính, tuy nhiên đến thời điểm đầu năm 2007 sau khi có quyết định số: 1215 /QĐ-BTNMT về việc thống nhất sử dụng phần mềm VILIS tại các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, thì dù áp dụng mô hình nào thì các dữ liệu bản đồ và hồ sơ địa chính cần đưa về một chuẩn thống nhất.3 Thông tin địa chính với thị trường bất động sản + Phân loại thông tin theo nội dung và đối tượng cung cấp 1.Thông tin cá nhân: Là các thông tin về cá nhân chủ hộ và những người liên quan, thu thập trong quá trình thiết lập hồ sơ địa chính như tên vợ, - 21 - n chồng, số chứng minh, số quản lý, số giấy chứng nhận…, loại thông tin này thuộc thông tin chỉ có các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp về lĩnh vực địa chính mới được quyền quản lý. Thông tin địa chính: Các thông tin về thửa đất được lập và bổ xung trong quá trình lập bản đồ và thiết lập hồ sơ địa chính… loại thông tin này thuộc thông tin quản lý nhà nước của những cơ quan quản lý trực tiếp về lĩnh vực địa chính; cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước thuộc các lĩnh vực liên quan được cung cấp theo mục VII-Thông tư 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/01/2004; sau này được quy định tại mục VI.
Thông tư 09/2007/TT- BTNMT ngày 02/08/2007; (Thay thế thông tư 29) 3. Thông tin mở rộng: Là các thông tin về địa chính mở rộng được lập và bổ xung trong quá trình thiết lập cơ dữ liệu bất động sản … loại thông tin này vừa có yếu tố quản lý nhà nước vừa mang tính chuyên đề của cơ quan nhà nước đặt hàng về lĩnh vực địa chính; thông tin địa chính mở rộng được lập cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước thuộc các lĩnh vực có liên quan ; các cá nhân, đơn vị sử dụng thông tin này cần phải có dự án hoặc hợp đồng đặt hàng.