CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững 1. Một số khái niệm liên quan về đất và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 1. Những khái niệm chung Theo Đô-cu-trai-ep (1886), đất là một thể tự nhiên được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình và tuổi địa phương (dẫn theo Cao Liêm và cs, 1975).
Theo Wiliam, đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng. Cũng theo Wiliam, độ phì của đất là khả năng cung cấp cho cây trồng nước, thức ăn, khoáng chất và các yếu tố cần thiết khác (như không khí, nhiệt độ.) để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường (dẫn theo Ngô Đức Cát, 2000). Theo FAO (1976), đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái. Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người. Tại Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil năm 1992, đất đai được hiểu theo nghĩa rộng, đất đai là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái trên và dưới bề mặt đất, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa (FAO, 1993). Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Nguyễn Ngọc Nông (2014), Đất đai được hiểu là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể có các thuộc tính tương đối ổn định Luan van 4 hoặc thay đổi như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn… và hoạt động sản xuất của con người. - Hệ thống sử dụng đất: Hệ thống sử dụng đất là một loại sử dụng đất cụ thể thực hiện trên một đơn vị đất đai và liên quan đến đầu tư, thu nhập và khả năng cải tạo (FAO, 1983).
- Loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT): Loại sử dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 2002): Các thuộc tính loại sử dụng đất bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như kỹ thuật canh tác, sức kéo trong làm đất, đầu tư kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế - xã hội như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất đai. Có thể liệt kê một số loại sử dụng đất đai trong nông nghiệp khá phổ biến hiện nay như: chuyên trồng lúa; chuyên trồng màu; lúa - màu; trồng cây lâu năm; đất đồng cỏ; đất lâm nghiệp; nuôi trồng thuỷ sản. Luật Đất đai năm 2013 “Đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động. Đất còn là vật mang các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân” (Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, 2013).
Chức năng của đất đai Theo FAO (1993), đất đai có các chức năng chức năng chủ yếu sau: sản xuất, điều chỉnh khí hậu, cân bằng điều chỉnh sinh thái, duy trì nguồn nước và cung cấp nước, dự trữ khoáng sản; không gian sự sống; bảo tồn, lịch sử; vật mang sự sống; phân dị lãnh thổ. + Chức năng sản xuất: cung cấp lương thực, thực phẩm chăn nuôi, sợi, dầu, gỗ và các vật liệu sinh vật sống khác cho con người sử dụng, một cách trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản. + Chức năng về môi trường sống: Đất đai là nền tảng của đa dạng hóa sinh vật trong đất thông qua việc cung cấp môi trường sống cho sinh vật và nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật, và vi sinh vật, ở trên và bên dưới mặt đất. Luan van 5 + Chức năng điều hòa khí hậu: Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và nơi chứa khí ga từ nhà kính hay hình thành một một sự cân bằng năng lượng toàn cầu giữa phản chiếu, hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và của chu kỳ thủy văn của toàn cầu.
+ Chức năng nước: Đất đai điều hòa sự tồn trữ và lưu thông của nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm, và những ảnh hưởng chất lượng của nước. + Chức năng tồn trữ: Đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô cho việc sử dụng của con người. + Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiễm: Đất đai có khả năng hấp thụ, lọc, đệm và chuyển đổi những thành phần nguy hại. + Chức năng không gian sống: Đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên cho việc xây dựng khu dân cư, nhà máy cơ sở hạ tầng và những hoạt động xã hội khác như thể thao, nghỉ ngơi… + Chức năng bảo tồn di tích lịch sử: Đất đai còn là nơi chứa đựng và bảo vệ các chứng tích lịch sử văn hóa của loài người, và nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu và những sử dụng đất đai trong quá khứ.
+ Chức năng nối liền không gian: Đất đai cung cấp không gian cho sự vận chuyển của con người, đầu tư vào sản xuất, và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa những vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên. Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững và tiêu chí đánh giá sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững. Khái niệm về phát triển bền vững Từ những năm 70 của Thế kỷ 20 vấn đề phát triển bền vững đã được quan tâm, năm 1984, Liên hợp quốc thành lập “Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED). Đến năm 1987, WCED đã đưa ra khái niệm: Phát triển bền vững (PTBV) là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Tại Việt Nam cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra những khái niệm cụ thể cho riêng lĩnh vực nghiên cứu của mình, theo Nguyễn Xuân Quát (1996), bền vững trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở Luan van 6 sử dụng đất đai phải duy trì được tính đa dạng và khả năng sinh lợi của các nguồn tài nguyên cho hiện tại và tương lai. Năm 1992, trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất tại Rio-de-Janero(Braxin) do Liên hợp quốc triệu tập và đã đưa ra tuyên bố RIO - 92 về môi trường và phát triển, đề ra Chương trình nghị sự 21 để từng quốc gia và toàn thể cộng đồng quốc tế xây dựng chương trình hành động nhằm giảm thiểu tác động của các hoạt động phát triển đến môi trường. Tại Hội nghị về phát triển bền vững (2002), Hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua bản tuyên bố “Johannesburg”. Trong bản tuyên bố này đã nêu, phát triển bền vững là có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống).
Theo Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2008), Việt Nam đã phê chuẩn Chương trình nghị sự 21 theo Quyết định số 1032/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2005 về việc thành lập Hội đồng Phát triển bền vững quốc gia. Theo đó nhiều Văn kiện của Đảng Công sản Việt Nam đã thể hiện chủ trương nhất quán. Năm 2001, tại Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 khẳng định quan điểm phát triển đất nước là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đã nêu ra những bài học kinh nghiệm “Phát triển nhanh và bền vững” trong đó đề cập đến bảo vệ và cải thiện môi trường.
Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng, quan điểm thứ nhất trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020” có nêu “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”. Đảng ta nhấn mạnh tới phát triển bền vững, là cơ sở cho phát triển nhanh, chủ động đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chú trọng phát triển theo chiều Luan van 7 sâu… (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011). Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI thảo luận, thống nhất và đã xác định mục tiêu tổng quát, đến năm 2020. Việt Nam có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của sử dụng đất SXNN Theo Smyth và Dumanski (1993) sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc: - Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất). - Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn). - Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước (bảo vệ). - Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi).
- Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận). Các nguyên tắc này cần được xem xét trong quá trình phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng đất có bền vững hay không để đề xuất phát triển.