ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe là vốn quý giá của con người, xã hội càng phát triển thì sự quan tâm của người dân đến sức khỏe ngày càng cao. Nhu cầu được khám và chữa trị của người dân rất lớn, theo đó các cơ sở khám chữa bệnh cũng phát triển không những về số lượng mà còn khẳng định bằng chất lượng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, hiện nay công tác khám chữa bệnh không chỉ đơn thuần dựa vào bệnh sử và triệu chứng lâm sàng mà còn dựa vào các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng của bệnh nhân. Xét nghiệm cận lâm sàng có nhiều mảng như kỹ thuật hình ảnh (chụp X-quang, siêu âm, xạ hình, chụp CT - Computed Tomography, chụp MRI - Magnetic Resonance Imaging…); thử nghiệm sinh lý (điện tâm đồ, điện não đồ, chức năng hô hấp…); xét nghiệm (Huyết học, Miễn dịch, Hóa sinh, Vi sinh, Ký sinh trùng…); giải phẫu bệnh… [10].
Xét nghiệm góp phần rất quan trọng đối với các quyết định điều trị, phát hiện tầm soát dịch bệnh, nghiên cứu khoa học… có thể nói một xét nghiệm có chất lượng là nhân tố quyết định phần lớn sự thành công trong các can thiệp y khoa và kết quả khoa học, đồng thời giảm thiểu thời gian và chi phí điều trị cho người bệnh [1]. Sự quá tải tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập vẫn đang là bài toán khó thách thức các cơ quan chức năng và lãnh đạo cao cấp của ngành y tế. Để đi đến sự giảm tải cho các bệnh viện công lập đồng thời đi kèm với chất lượng khám chữa bệnh cho người bệnh các cơ sở y tế tư nhân đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng các yêu cầu khám, chữa bệnh đồng thời tạo niềm tin lâu dài. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cũng là một yếu tố không nhỏ góp phần vào chất lượng điều trị và cũng tạo nên niềm tin cho khách hàng.
Để tạo niềm tin 1 cho khách hàng và hiệu quả trong điều trị, các cơ sở xét nghiệm cần phải đáp ứng các điều kiện cần thiết theo yêu cầu của ngành. Trong thời gian qua, Bộ y tế đã có rất nhiều những quy định liên quan đến các vấn đề đảm bảo chất lượng xét nghiệm như thông tư 01/2013 BYT , Thông tư 07/ an toàn sinh học phòng xét nghiệm ., theo đó các phòng xét nghiệm phải đạt những điều kiện cơ bản khi đưa vào hoạt động, đồng thời việc duy trì các điều kiện hoạt động, do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá một số điều kiện hoạt động của các cơ sở xét nghiệm y khoa ngoài công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu nhằm xác định những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục trong công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm tại cơ sở và đưa ra một số khuyến nghị nhằm củng cố công tác xét nghiệm tại đơn vị, góp phần đáp ứng nhu cầu phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá một số điều kiện hoạt động của các cơ sở xét nghiệm ngoài công lập trên địa bàn Tp.
Hồ Chí Minh,thông qua công tác tự chấm điểm của phòng xét nghiệm và công tác kiểm tra thực tế của Trung tâm kiểm chuẩn xét nghiệm Tp. Mục tiêu cụ thể: 1. Đánh giá 1 số tiêu chí về điều kiện cơ sở vật chất của các cơ sở xét nghiệm ngoài công lập trên địa bàn TP HCM trong năm 2015. Đánh giá 1 số tiêu chí về yêu cầu trang thiết bị tại các cơ sở xét nghiệm trên.
TỔNG QUAN Xét nghiệm là một loạt các hoạt động có mục tiêu xác định giá trị hoặc tính chất của một vật thể. Xét nghiệm chẩn đoán là một xét nghiệm để xác định một bệnh hoặc một triệu chứng của bệnh [21]. Xét nghiệm định tính là một xét nghiệm để phát hiện sự hiện diện hoặc không có hiện diện của một chất, một phức họp đặc biệt. Xét nghiệm định lượng là một xét nghiệm để xác định nồng độ hoặc số lượng của một chất phân tích trong một mẫu bệnh phẩm, kết quả được biểu hiện dưới dạng số lượng [21].
Xét nghiệm hóa sinh máu là một xét nghiệm y học thông dụng trong chẩn đoán và theo dõi bệnh lý. Phương pháp xét nghiệm hóa sinh là phương pháp phân tích nhằm phát hiện những thay đổi về lượng và về chất của các phân tử và nguyên tử có trong cơ thể người bệnh. Chính nhờ đặc tính này mà những biến đổi về số lượng và về chất lượng của bệnh lý được phát hiện sớm nhất trong quá trình sinh lý bệnh. Phương pháp hóa sinh là những phương pháp được thực hiện chủ yếu trên các phương tiện, trang thiết bị máy móc, các kỹ thuật của chúng tuân thủ những nguyên lý vật lý, hóa học, sinh học.
Do đó, các kết quả mang tính khách quan hơn; Việc đo đếm và ghi chép được thực hiện một cách cụ thể, tránh được nhiều sai sót so với các phương pháp chẩn đoán chủ quan khác. Những phương pháp và kỹ thuật hóa sinh hiện đại thừa hưởng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến cho phép xác định được những thay đổi chính xác, đặc biệt đối với một số bệnh [23]. Xét nghiệm huyết học là một trong những xét nghiệm thường quy được sử dụng nhiều nhất trong các xét nghiệm, là xét nghiệm quan trọng cung cấp thông tin cho người thầy thuốc về tình trạng của bệnh nhân. Trước đây, xét nghiệm 3 được thực hiện bằng phương pháp thủ công, ngày nay với sự phát triển của khoa học, mẫu máu xét nghiệm huyết học được máy làm một cách tự động [2], Xét nghiệm vi sinh là các loại xét nghiệm tìm căn nguyên gây bệnh nhiễm trùng, bằng chứng của quá trình nhiễm trùng bao gồm cả dịch bệnh.
Như vậy đối tượng của các loại xét nghiệm này là các vi sinh vật gây bệnh ở trong các bệnh phẩm được thu thập từ người, môi trường sống, các loại dụng cụ, thức ăn. có khả năng liên quan đến nhiễm trùng [1], 1. CÁC YÊU CẦU CHUNG VỀ SƠ SỞ XÉT NGHIỆM Cơ sở/khoa xét nghiệm là nơi tiến hành các kỹ thuật xét nghiệm hóa sinh, vi sinh, ký sinh trùng, huyết học, giải phẫu bệnh; nhằm phục vụ công tác chẩn đoán, khám chữa bệnh và nghiên cứu khoa học [10]. Theo Quyết định 1327/2002/QĐ-BYT ngày 18/04/2002, ban hành “Tiêu chuẩn thiết kế phòng khám đa khoa khu vực” [17].
Phòng khám ĐKKV được quy định theo hai quy mô phục vụ: Qui mô nhỏ: từ 80 đến dưới 120 lượt khám/ngày có 6 đến 10 giường lưu. Qui mô lớn từ 120 đến 150 lượt khám/ngày, có 11 đến 15 giường lưu. Yêu cầu về giải pháp thiết kế các hạng mục công trình. Yêu cầu về điện tích, chiều cao phòng xét nghiệm 1.
Tổ chức không gian đảm bảo các yêu cầu sau + Phù hợp với yêu cầu công năng sử dụng, không chồng chéo hoạt động của các công tác: khám - chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu và công tác y tế dự phòng, vệ sinh dịch tễ. + Dây chuyền hoạt động phải theo nguyên lý một chiều, đảm bảo yêu cầu sạch, bẩn riêng biệt. 4 + Các phòng khám, chữa bệnh, phòng đẻ và dịch vụ KHHGĐ phải được bố trí riêng biệt, đảm bảo điều kiện vô khuẩn. + Các hạng mục công trình phải phù hợp với các trang thiết bị theo Danh mục trang thiết bị y tế (theo quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/2/2002).
Chiều cao phòng + Các phòng trong khối nhà chính có chiều cao tối thiểu 3,3m + Các phòng phụ, vệ sinh có chiều cao tối thiểu 2,8m 1. Chiều rộng hành lang + Hành lang bên (có kết hợp chỗ đợi) rộng rừ 2,4 đến 2,8m + Hành lang bên (không kết hợp đợi) rộng từ 1,5 đến 1,8m. Cửa đi + Chiều cao của các loại cửa đi tối thiểu 2,1m + Cửa đi thông thường có chiều rộng tối thiểu 1,4m + Cửa đi có chuyển cáng, đòn võng có chiều rộng tối thiểu 1,4m , Cửa đi vào phòng đẻ chiều rộng tối thiểu 1,4m + Cửa đi vào phòng vệ sinh rộng tối thiểu 0,7 m. Cầu thang + Độ dốc cầu thang tối đa 300.
+ Chiều rộng mỗi vế thang tối thiểu 1,5m .Chiếu nghỉ rộng tối thiểu 1,5m + Có đường dốc ở các cầu thang chính để danh cho xe đẩy. Yêu cầu đối với các hạng mục công trình Diện tích các phòng khám,điều trị ngoại trú và phòng xét nghiệm theo qui định. Thông tư 01 /2013 là văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng khám chữa bệnh. Đây là văn bản quy phạm về lĩnh vực xét nghiệm đầu tiên hướng dẫn nội dung và trách nhiệm thực thực quản lý chất lượng tại cơ sở khám chữa bệnh [19].
Kế hoạch quản lý chất lượng xét nghiệm Quản lý chất lượng xét nghiệm là các hoạt động phối hợp để định hướng và kiểm soát chất lượng của phòng xét nghiệm, vì vậy cần bao gồm lập kế hoạch, kiểm soát, bảo đảm và cải tiến chất lượng xét nghiệm [10]. Để nâng cao chất lượng xét nghiệm, tiếp nhận các thông tin kỹ thuật mới, quản lý chất lượng trong xét nghiệm, đồng thời thực hiện tốt việc cải tiến chất lượng cũng như duy trì chứng chỉ hành nghề, nhân viên phòng xét nghiệm cần được đào tạo cập nhật kiến thức xét nghiệm thường xuyên, định kỳ [15]. Đánh giá chất lượng xét nghiệm nội bộ là hoạt động tự kiểm tra và đánh giá công tác quản lý chất lượng xét nghiệm thuộc nội bộ phòng xét nghiệm với mục đích xem xét của lãnh đạo nhằm đánh giá chất lượng thực hiện các xét nghiệm, tìm ra các vấn đề không phù hợp để đề ra các biện pháp phòng ngừa, khắc phục và cải tiến [10] Việc đánh giá chất lượng nội bộ cần thực hiện ít nhất 1 lần/năm Thiết bị, hóa chất đảm bảo chất lượng góp phần không nhỏ trong công tác quản lý chất lượng xét nghiệm.Vì vậy, phòng xét nghiệm cần có kế hoạch giám sát và sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng trang thiết bị, hóa chất [20]. Tuy nhiên, để kế hoạch được triển khai thực hiện kịp thời, cần phải có sự phê duyệt của lãnh đạo đơn vị.
Biên soạn, thực hiện sổ tay chất lượng Sổ tay chất lượng là tài liệu thiết yếu của hệ thống quản lý chất lượng phòng xét nghiệm, mô tả các hoạt động xuyên suốt của hệ thống và làm thế nào chính sách chất lượng của phòng xét nghiệm sẽ được thực hiện. Mục đích của sổ tay chất lượng giúp chia sẽ thông tin, kiến thức và cung cấp những bằng chứng của việc thực hiện quản lý chất lượng. Do đó sổ tay chất lượng phải được lãnh đạo cơ sở phê duyệt để toàn thể nhân viên thực hiện thống nhất.