CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Một số vấn đề về hồ sơ địa chính 1.Khái niệm về hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sửdụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Theo Điều 96 luật đất đai năm 2013quy định Hồ sơ địa chính: Hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc dạng số thể hiện thông tin chi tiết về từng thửa đất, người được giao quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, các quyền và thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính và việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; lộ trình chuyển đổi hồ sơ địa chính dạng giấy sang hồ sơ địa chính dạng số.
Hồ sơ địa chính gắn chặt với công tác địa chính là kết quả của quá trình thực hiện các tác nghiệp địa chính. Thực tế quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu và đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, đặc điểm chính trị, trình độ và khả năng tiếp cận, ứng dụng công nghệ của xã hội nói chung và cụ thể là các tổ chức, cá nhân tham gia vào trong quá trình này. Mặt khác mỗi nhà nước ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau lại có những yêu cầu đối với việc ghi nhận các thông tin về đất đai cũng như việc thiết lập các loại tài liệu: bản đồ, sổ sách để lưu giữ các thông tin về đất đai khác nhau. Chính vì vậy mà thành phần và nội dung của hồ sơ địa chính ở mỗi nước, mỗi thời kỳ có thể có những điểm khác nhau nhất định Theo Luật Đất đai năm 2013 và thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc dạng số thể hiện thông tin chi tiết về từng thửa đất, người được giao quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, các quyền và thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Tại Điều 4 thông tư số 24/2014/TT-BTNMT [4] quy định hồ sơ địa chính như sau: - Đối với các địa phương xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu địa chính, hồ sơ địa chính được lập dưới dạng số va lưu trong cơ sở dữ liệu đất đai, gồm có các tài liệu sau đây: PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 + Tài liệu điều tra đo đạc địa chính gồm bản đồ địa chính và sổ mục kê đất đai; + Sổ địa chính; + Bản lưu giấy chứng nhận. - Đối với các địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, hồ ớ địa chính gồm có: + Tài liệu điều tra đo đạc địa chính gồm bản đồ địa chính và sổ mục kê đất đai; Bản lưu giấy chứng nhận được lập dưới dạng giấy và dạng số; + Sổ địa chính được lập dưới dạng giấy hoặc dạng số; + Sổ theo dõi biến động đất đai lập dưới dạng giấy.Vai trò của hồ sơ địa chính đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của Nhà nước về đất đai. Đó là các hoạt động nắm và quản lý tình hình sử dụng đất; phân bổ quỹ đất đai vào các mục đích sử dụng theo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất. Mục tiêu cao nhất của công tác quản lý nhà nước về đất đai là đảm bảo khai thác, sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, bền vững và ngày càng có hiệu quả cao.
Do vậy, để Nhà nước quản lý được quỹ đất đai (nắm chắc, quản chặt) nhất thiết phải có hệ thống thông tin về đất đai (điều kiện cơ bản). Trên cơ sở hệ thống thông tin về đất đai, Nhà nước sẽ thực hiện các mối quan hệ kinh tế - xã hội liên quan đối với quá trình sử dụng đất. Do đó, nhất thiết phải có hồ sơ địa chính để thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai. Vai trò của hồ sơ địa chính đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai thể hiện ở các khía cạnh sau: Hồ sơ địa chính là nguồn cung cấp thông tin cho phép chúng ta xác định mức độ sử dụng đất của từng chủ sử dụng đất, các hiện tượng nảy sinh trong quan hệ đất đai làm cơ sở khoa học hoạch định chính sách, điều chỉnh các mối quan hệ về đất đai cho phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hồ sơ địa chính là cơ sở quan trọng phục vụ công tác thống kê, kiểm kê đất đai; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển các ngành; thanh tra đất đai; giải quyết các khiếu nại về đất đai cũng như xác định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Hồ sơ địa chính là nguồn cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, có tính pháp lý cho các giao dịch, mua bán bất động sản ở tất cả các bước trong quá trình thực hiện một giao dịch bất động sản. Trong bối cảnh thị trường bất động sản ở Việt Nam chưa PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 thoát khỏi thời kỳ sơ khai, các dịch vụ phục vụ thị trường bất động sản chưa phát triển, việc đăng ký bất động sản chưa được thực hiện rộng khắp thì hồ sơ địa chính được xem là nguồn cung cấp thông tin mang tính pháp lý quan trọng nhất cho việc mua, bán bất động sản. Việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính ở các cấp với đầy đủ những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý là rất cần thiết đối với công tác quản lý đất đai.
Khái niệm về quản lý nhà nước về đất đai 1. Khái niệm Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai;đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch,kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai Nhà nước quản lý về đất đai có những vai trò sau: - Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai. - Quản lý, giám sát quá trình sử dụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Tổ chức xây dựng và cơ cấu bộ máy nhà nước về đất đai, điều hành giám sát hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về đất đai [30]. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. - Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Thống kê, kiểm kê đất đai. - Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. - Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. - Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai. Vấn đề quản lý nhà nước về đất đai Đất đai có thể đem lại sự giàu có, sự phồn thịnh cho chủ sở hữu đất, và việc sở hữu đất đai như thế nào cho hợp lý để đảm bảo cho sự phát triển ổn định hoà bình, công bằng xã hội lại là vấn đề hết sức hóc búa đối với mỗi quốc gia cũng như toàn thể nhân loại. Chế độ quản lý và sử dụng đất đai hiện hành của nước ta là sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý, nhân dân được trực tiếp sử dụng và có các quyền của người sử dụng đất. Để quy định, bảo vệ và thực thi chế độ này Nhà nước ta đã đưa ra các văn bản pháp luật, pháp lý quy định cụ thể.
Đó là Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 (Điều 19), Hiến pháp 1992 (Điều 17,18, 84), Luật Đất đai qua các thời kỳ quy định về quyền sở hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, chế độ quản lý đất đai thống nhất của Nhà nước cũng như quy định rõ quyền hạn trách nhiệm, các công tác quản lý đất và quyền hạn trách nhiệm của người sử dụng đất. Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ngày càng trở nên được coi trọng, khi quan hệ đất đai ngày càng mở rộng và đan xen phức tạp vào mọi hoạt động kinh tế xã hội như hiện nay thì sự phối hợp giữa cơ chế sở hữu và cơ chế sử dụng đất trở thành một vấn đề nóng hổi, nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn.