ĐẶT VẤN ĐỀ Thẩm mỹ mặt hiện đang là mục tiêu điều trị của nhiều lĩnh vực y học khác nhau. Một trong các vấn đề thường gặp ảnh hưởng đến thẩm mỹ mặt là tình trạng sai khớp cắn. Tại Việt Nam, tỷ lệ lệch lạc răng và xương hàm ở người trẻ rất cao (chiếm 83,25%)1. Trong đó, cắn ngược vùng răng trước là tình trạng gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng của người bệnh nhiều nhất.
Có nhiều phương pháp để điều trị cắn ngược vùng răng trước, tuỳ nguyên nhân gây lệch lạc khớp cắn, thời điểm can thiệp và mức độ trầm trọng. Trong đó cắn ngược răng trước kết hợp với sai hình xương hạng III được đánh giá là phức tạp và khó điều trị nhất. Nếu bệnh nhân còn tăng trưởng, điều trị chỉnh hình răng mặt có thể hạn chế sự phát triển xương hàm dưới và/hoặc kích thích sự phát triển của xương hàm trên, nhằm thay đổi tương quan hai hàm. Với những bệnh nhân đã qua đỉnh tăng trưởng, chỉ có thể điều trị chỉnh hình ngụy trang để cải thiện khớp cắn và thẩm mỹ mặt bù trừ sự bất cân xứng của nền xương.
Phương pháp điều trị phẫu thuật được đề nghị với những bệnh nhân có sự bất cân xứng về xương hàm nặng. Trong các phương pháp chỉnh hình ngụy trang, điều trị bằng khí cụ cố định được áp dụng rộng rãi nhất tại nước ta hiện nay. Mục đích của việc điều trị là thiết lập được khớp cắn đúng, cải thiện tương quan về xương và các đặc điểm về mô mềm theo các tiêu chuẩn của gương mặt hài hòa thẩm mỹ. Để đạt được điều đó, nhà lâm sàng cần thăm khám cẩn thận để đưa ra kế hoạch điều trị đúng, phù hợp cho từng bệnh nhân cụ thể.
Trong các yếu tố được xem xét khi xây dựng kế hoạch điều trị thì việc có nhổ răng hay không là một vấn đề được bàn luận nhiều nhất. Mục đích ban đầu của việc nhổ răng là tạo khoảng trống để sắp đều các răng, nhằm đạt được khớp cắn đúng và vẻ mặt hài hòa thẩm mỹ. Angle (1907), cha đẻ của ngành chỉnh hình răng mặt đương đại, cho rằng bộ răng tự nhiên phải có đầy đủ răng và gương mặt sẽ hài hòa nếu các răng được sắp thẳng trên cung hàm theo một khớp cắn chuẩn. Ông đưa ra quan điểm điều trị không nhổ răng.
Tweed (1954) đã chứng minh nếu góc trục răng cửa hàm dưới với mặt phẳng Frankfort cao hơn giá trị bình thường thì khớp cắn sẽ không ổn định. Tác giả đề nghị nếu mức độ chen chúc trên. 2 10mm thì phải nhổ răng. Trong quá trình phát triển của ngành chỉnh hình răng mặt, nhiều tác giả đã đưa ra các luận điểm trái chiều về vấn đề này.
Đồng thời nhiều nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố khác có ảnh hưởng đến chỉ định nhổ răng trong chỉnh hình răng mặt như: mức độ thiếu khoảng, tương quan hai hàm, nét mặt nhìn nghiêng, sự bất đối xứng của răng… Khi xây dựng kế hoạch điều trị, việc phân tích kỹ lưỡng các yếu tố này theo mỗi loại sai khớp cắn khác nhau sẽ giúp các nhà lâm sàng đưa ra quyết định nhổ răng hợp lý nhất cho từng trường hợp bệnh nhân cụ thể. Điều trị chỉnh hình bằng khí cụ cố định là sự di chuyển răng nhằm đạt được khớp cắn đúng để bù trừ sự lệch lạc nền xương. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là, sau điều trị, răng, xương và mô mềm sẽ thay đổi như thế nào? Mô mềm có đáp ứng tốt với sự di chuyển của mô cứng hay không? Thẩm mỹ mặt có cải thiện so với trước điều trị? Và quyết định nhổ răng sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các yếu tố này? Tại Việt Nam, có ít nghiên cứu để tìm ra các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến quyết định nhổ răng trong điều trị chỉnh hình răng mặt và đánh giá ảnh hưởng của quyết định này lên kết quả điều trị, đặc biệt là trong điều trị cắn ngược vùng răng trước bằng khí cụ cố định. Vì vậy, để cung cấp thêm những bằng chứng khoa học trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng kết quả cho loại sai khớp cắn này, đề tài “Đánh giá đặc điểm răng, xương, mô mềm trước và sau điều trị có nhổ răng và không nhổ răng ở bệnh nhân cắn ngược răng trước” được thực hiện với mục tiêu: Mục tiêu tổng quát: Đánh giá đặc điểm răng, xương, mô mềm trước và sau điều trị có nhổ răng và không nhổ răng ở bệnh nhân cắn ngược răng trước trong chỉnh hình răng mặt bằng khí cụ cố định trên phim sọ nghiêng và mẫu hàm.
Mục tiêu chuyên biệt: 1. So sánh sự khác biệt một số yếu tố răng, xương và mô mềm trước điều trị ở nhóm có nhổ răng và nhóm không nhổ răng. Đánh giá sự thay đổi răng, xương và mô mềm sau điều trị ở nhóm có nhổ răng và nhóm không nhổ răng. Xác định mối liên quan giữa sự thay đổi mô cứng và mô mềm sau điều trị.1 Sai khớp cắn và phân loại sai khớp cắn 1.1 Sai khớp cắn Sai khớp cắn là sự lệch lạc của tương quan giữa các răng trên một hàm và/hoặc giữa hai hàm gây ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân và thường kết hợp với những sai hình răng mặt khác.
Phân loại sai khớp cắn: + Theo bệnh căn (Kingsley, 1880): tăng trưởng, chấn thương, di truyền và mắc phải. + Theo hình thái (Angle, 1907).2 Phân loại sai khớp cắn Răng cối lớn thứ nhất hàm trên là răng vĩnh viễn lớn nhất của cung hàm trên, có vị trí tương đối ổn định so với nền sọ, khi mọc không bị chân răng sữa cản trở và còn được hướng dẫn mọc vào đúng vị trí nhờ vào hệ răng sữa. Angle (1899) đã coi răng này là một mốc giải phẫu cố định và là chìa khóa của khớp cắn. Căn cứ vào mối tương quan của nó và răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới cùng sự sắp xếp của các răng liên quan tới đường cắn khớp, ông đã phân khớp cắn thành 4 loại 2: - Khớp cắn bình thường: Múi gần ngoài của răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh gần ngoàicủa răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới.
Các răng còn lại trên cung hàm sắp xếp theo một đường cắn khớp đều đặn. Khớp cắn bình thường “Nguồn: Proffit, 2012”3 - Sai khớp cắn hạng I: Răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và dưới vẫn có mối tương quan cắn khớp bình thường, nghĩa là múi gần ngoài của răng cối lớn vĩnh. 4 viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh gần ngoàicủa răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới. Nhưng đường cắn khớp không đúng (do các răng trước mọc sai chỗ, xoay, hoặc do những nguyên nhân khác.
Sai khớp cắn hạng I “Nguồn: Proffit, 2012”3 - Sai khớp cắn hạng II: múi gần ngoài của răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp về phía gần so với rãnh gần ngoàicủa răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới. Sai khớp cắn hạng II “Nguồn: Proffit, 2012” 3 - Sai khớp cắn hạng III: múi gần ngoài của răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp về phía xa so với rãnh gần ngoàicủa răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới. Các răng cửa dưới có thể ở phía ngoài các răng cửa trên (cắn ngược răng trước). Sai khớp cắn hạng III “Nguồn: Proffit, 2012” 3 1.2 Cắn ngược răng trước Cắn ngược răng trước là tình trạng khớp cắn có một hay vài răng trước hàm trên nằm ở phía trong so với răng hàm dưới khi hàm dưới ở tư thế cắn khớp trung tâm.
Cắn ngược răng trước có thể gặp ở sai khớp cắn hạng I và hạng III theo Angle 2. 5 ngược nhiều răng trước thường gặp trong sai khớp cắn hạng III (thật sự hoặc giả). Điều quan trọng là phải phân biệt cắn ngược răng trước là do nguyên nhân xương hàm (hàm trên kém phát triển hoặc hàm dưới phát triển quá mức) hoặc do vị trí của răng cửa.1 Nguyên nhân Nguyên nhân nguyên phát (di truyền hoặc do xương) - Kém phát triển hàm trên. - Quá triển hàm dưới.
- Góc nền sọ (Na-S-Ba) giảm. - Góc Na-S-Ar giảm, góc S-Ar-Go giảm. - Lưỡi nằm thấp, đưa ra trước, chiếm thể tích lớn trong xoang miệng làm hình dạng và kích thước hàm dưới lớn và nhô. Xương móng thường thấp hơn vị trí bình thường (khoảng giữa C3 và C4).
Nguyên nhân thứ phát a. Nguyên nhân tại chỗ: - Tác động cơ học: răng dư, sang chấn,… có thể làm xoay và lệch vị trí răng cửa hàm trên về phía lưỡi. - Thiếu răng cửa trên làm giảm chiều dài cung răng của hàm trên. Các nguyên nhân tại chỗ làm hàm dưới dễ trượt ra trước và răng cửa dưới cắn ngược, tạo thành hạng III giả hoặc hạng III chức năng: - Chậm mọc răng cửa trên vĩnh viễn, làm không có điểm chận răng cửa.
+ Không có tiếp xúc răng sau, đặc biệt do mất răng cối sữa hàm dưới sớm khiến hàm dưới trượt ra trước để có tiếp xúc khớp cắn tối đa. + Cản trở khớp cắn làm trượt hàm dưới ra trước. Những bù trừ thần kinh cơ như vậy dần dần làm hàm dưới nhô ra trước vĩnh viễn và răng sẽ mọc vào vị trí với tương quan hai hàm không đúng. Răng trong hàm trên mọc không hoàn toàn (có thể do đẩy lưỡi hoặc hoạt động chức năng) hoặc do thiếu tăng trưởng theo chiều đứng làm tăng khoảng hở liên khớp.
6 khi làm dưới đóng lại. Hàm dưới phải xoay và trượt ra trước gây cắn ngược răng trước. Nguyên nhân nội tiết: - Cường chức năng tuyến yên có thể gây chứng khổng lồ trong sự phát triển ảnh hưởng đến sự phát triển quá mức của xương hàm dưới. - U tuyến ưa eosin của tuyến yên gây chứng to cực ở người trưởng thành.
Nguyên nhân do khớp: - Lỏng lẻo dây chằng khớp thái dương hàm khiến hàm dưới dễ trượt ra trước. Do tâm lý: - Thói quen bắt chước đưa hàm dưới ra trước. Nguyên nhân do cơ và chức năng: - Do quá chức năng cơ đưa hàm ra trước (cơ chân bướm ngoài). - Do mất thăng bằng giữa cơ nâng và cơ hạ hàm.
- Do mất thăng bằng giữa cơ môi và cơ lưỡi. - Do thắng lưỡi bám thấp làm lưỡi hạ thấp và đưa ra trước. - Do hoạt động của lưỡi quá mức hoặc không có trương lực. - Do điểm tựa của lưỡi ở sau cổ răng cửa dưới.
- Phì đại amydal, bệnh lý đường hô hấp trên làm đẩy lưỡi ra trước, phẳng và hạ thấp để khỏi cản trở đường hô hấp. Do dị tật bẩm sinh: - Chủ yếu gặp ở khe hở môi hàm ếch gây kém phát triển chiều trước sau và chiều ngang xương hàm trên.