Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 80% dân số tại các quốc gia đang phát triển, tương đương 3,5 đến 4 tỷ người, đang phụ thuộc chủ yếu vào nền y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tại Việt Nam, trong tổng số hơn 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, giới khoa học đã ghi nhận khoảng 3.800 loài có công dụng làm thuốc. Tuy nhiên, áp lực gia tăng dân số cùng tình trạng khai thác thương mại quá mức đã khiến 138 loài cây thuốc đứng trước nguy cơ đe dọa tuyệt chủng, trong đó 102 loài đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam.

Trước thực trạng đó, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu kiểm kê, giám định khoa học và đánh giá toàn diện tính đa dạng sinh học của nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Vì. Công trình tập trung phân tích sâu cấu trúc phân loại học, dạng sống sinh thái, môi trường phân bố, bộ phận sử dụng và tri thức bản địa của cộng đồng dân cư địa phương.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn 2004 đến 2006, tập trung trên diện tích tự nhiên 6.000 ha thuộc 7 xã miền núi của huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Mặc dù khu vực này chỉ chiếm tỷ lệ diện tích khoảng 0,0021% so với cả nước, nhưng kết quả nghiên cứu đã chứng minh nơi đây lưu giữ tới 17,36% số loài và 51,47% số họ cây thuốc của toàn quốc. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn nguồn gen và định hướng khai thác lâm sản ngoài gỗ bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết Đa dạng sinh học và Bảo tồn quần xã thực vật theo quan điểm tiến hóa của Takhtajan kết hợp hệ thống phân loại học hiện đại của Brummitt ban hành năm 1992. Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng sâu sắc lý thuyết Dân tộc thực vật học và Dân tộc dược học do Giáo sư Nguyễn Nghĩa Thìn chuẩn hóa, giúp gắn kết tri thức bản địa với phân loại học thực nghiệm.

Khung phân tích của đề tài vận hành xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi:

  • Đa dạng phân loại học thực vật bậc cao có mạch.
  • Cấu trúc dạng sống sinh thái học theo thang phân loại thích nghi sinh cảnh.
  • Bảo tồn nguyên vị (In-situ) tại các sinh cảnh rừng tự nhiên.
  • Bảo tồn chuyển vị (Ex-situ) thông qua nhân giống nhân tạo tại vườn thực vật và nương vườn hộ gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn tư liệu thứ cấp kế thừa có chọn lọc qua các công trình nghiên cứu dược liệu giai đoạn 1962 đến 2003 của Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Trần Văn Ơn, kết hợp chặt chẽ với dữ liệu sơ cấp thu thập từ thực địa.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài thực hiện điều tra xã hội học thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phỏng vấn sâu 100% các ông lang, bà mế và các hộ gia đình hành nghề bốc thuốc gia truyền tại 7 xã vùng đệm (gồm Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh, Ba Trại, Ba Vì, Minh Quang, Khánh Thượng). Đáng chú ý, cộng đồng người Dao tại 3 thôn Hợp Nhất, Sổ và Yên Sơn với hơn 90% số hộ có kinh nghiệm làm thuốc được khảo sát toàn diện.

Trên thực địa, tác giả thiết lập các tuyến điều tra cắt ngang qua các đai cao từ 100 mét đến 1.227 mét (đỉnh Vua) nhằm thu thập mẫu tiêu bản đại diện cho mọi dạng sinh cảnh. Phương pháp định danh hình thái so sánh kết hợp tra cứu mẫu chuẩn tại Bảo tàng Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU) và đối chiếu tài liệu Thực vật chí Việt Nam được lựa chọn nhằm đảm bảo tính chuẩn xác tuyệt đối của danh mục. Đánh giá mức độ nguy cấp được căn cứ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, Sách đỏ Việt Nam và tiêu chuẩn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Toàn bộ quá trình xử lý mẫu vật và số liệu được hoàn thành trong mốc thời gian từ năm 2004 đến 2006.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã thống kê và lập danh mục chính xác 668 loài thực vật làm thuốc thuộc 441 chi, 158 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Vườn quốc gia Ba Vì. Cấu trúc phân loại thể hiện sự vượt trội của ngành Hạt kín với 140 họ (chiếm 88,61%), 421 chi (chiếm 96,83%) và 644 loài (chiếm 96,40% tổng số loài). Trong đó, lớp Hai lá mầm giữ vai trò chủ đạo với 551 loài (chiếm 85,56% số loài của ngành Hạt kín), trong khi lớp Một lá mầm sở hữu 93 loài (chiếm 14,44%). Bốn ngành còn lại chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 3,60% tổng số loài, bao gồm Dương xỉ (14 loài, chiếm 2,10%), Hạt trần (7 loài, chiếm 1,05%), Thông đất (2 loài, chiếm 0,30%) và Cỏ tháp bút (1 loài, chiếm 0,15%).

Thứ hai, tính đa dạng tập trung thể hiện rõ ở 10 họ thực vật có số lượng loài lớn nhất (từ 15 loài trở lên/họ), quy tụ 231 loài, chiếm 34,58% tổng số loài cây thuốc toàn khu vực. Dẫn đầu là họ Thầu dầu với 38 loài (chiếm 8,96% số loài của họ này trên cả nước), tiếp theo là họ Cúc với 35 loài (chiếm 10,77%), họ Cà phê với 26 loài (chiếm 6,50%), họ Dâu tằm với 24 loài (chiếm 20,34%) và họ Đậu với 23 loài (chiếm 4,89%). Ở cấp độ chi, có 22 chi sở hữu từ 4 loài trở lên (tổng cộng 118 loài, chiếm 17,66% tổng số loài toàn hệ), trong đó chi Ficus đứng đầu với 16 loài, chi Ardisia có 9 loài và chi Cinnamomum có 7 loài.

Thứ ba, cấu trúc dạng sống của cây thuốc Ba Vì rất phong phú: nhóm cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 196 loài (chiếm 29,34%), kế tiếp là cây thân gỗ với 169 loài (chiếm 25,30%), cây bụi có 164 loài (chiếm 24,55%), dây leo có 120 loài (chiếm 17,96%) và thực vật phụ sinh có 19 loài (chiếm 2,84%). Về sinh cảnh phân bố, có 375 loài (chiếm 56,14%) sinh trưởng ở môi trường rừng núi tự nhiên, 244 loài (chiếm 36,53%) ghi nhận tại vườn nhà và nương rẫy, 157 loài (chiếm 23,50%) phân bố ở đồi hoang và 49 loài (chiếm 7,34%) sống ven khe suối. Về bộ phận sử dụng, có 298 loài (chiếm 44,61%) chỉ khai thác 1 bộ phận, 212 loài (chiếm 31,74%) dùng 2 bộ phận, 23 loài (chiếm 3,44%) dùng từ 3 bộ phận trở lên và có tới 135 loài (chiếm 20,21%) bị khai thác toàn bộ cây.

Thảo luận kết quả

Sự đa dạng vượt trội của hệ cây thuốc tại Ba Vì xuất phát trực tiếp từ các đặc trưng địa hình và vi khí hậu đặc thù. Độ dốc sườn núi bình quân từ 25 đến 35 độ, kết hợp cùng lượng mưa dồi dào từ 130 đến 150 ngày mỗi năm và độ ẩm không khí duy trì ở mức 92% quanh năm tại đai cao trên 1.000 mét đã tạo môi trường sống tối ưu cho các loài cây ưa ẩm dưới tán rừng già, tiêu biểu như Hoa tiên, Bát giác liên, Râu hùm hoa tía và Bảy lá một hoa.

So với công trình nghiên cứu trước đây của Nguyễn Nghĩa Thìn năm 1998 (chỉ ghi nhận 274 loài của người Dao) hay luận án của Trần Văn Ơn năm 2003 (thống kê 503 loài), kết quả 668 loài của luận văn này đã mở rộng đáng kể bức tranh đa dạng sinh học cây thuốc khi tổng hợp đầy đủ tri thức sử dụng của cả 3 cộng đồng dân tộc Kinh, Mường và Dao.

Các dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu dạng sống (thân thảo 29,34%, thân gỗ 25,30%) và tỷ lệ taxon giữa các ngành có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ tròn và bảng phân tích tần số tương đối, giúp các nhà quản lý dễ dàng so sánh tỷ trọng giữa các sinh cảnh. Kết quả thảo luận cũng đặt ra hồi chuông cảnh báo lớn: việc 20,21% số loài bị thu hái toàn bộ cây (cả thân, lá, rễ) kết hợp với thực tế 40% dân số xã Ba Vì sống phụ thuộc vào nghề bán dược liệu đang tạo ra sức ép khai thác tận diệt đối với các loài thuốc quý trong tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc:

Thứ nhất, thiết lập khu bảo vệ nghiêm ngặt và khoanh nuôi nguyên vị (In-situ) đối với 30 loài cây thuốc có giá trị bảo tồn ưu tiên cao (như Hoa tiên, Bát giác liên, Rù rì bãi, Bình vôi, Hoàng liên chân gà). Mục tiêu đặt ra là giảm thiểu 50% các vụ vi phạm khai thác dược liệu trái phép trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt giai đoạn 2006 đến 2010. Đơn vị chủ trì thực hiện là Ban Quản lý Vườn quốc gia Ba Vì phối hợp chặt chẽ với Hạt Kiểm lâm địa phương.

Thứ hai, xây dựng hệ thống 3 vườn ươm bảo tồn chuyển vị (Ex-situ) với tổng quy mô 5 ha tại các trạm nghiên cứu lâm sinh, đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom. Chỉ tiêu đến năm 2008 phải nhân giống và thuần hóa thành công tối thiểu 18 loài dược liệu nguy cấp để cung cấp nguồn cây giống chất lượng cao cho cộng đồng. Chủ thể chịu trách nhiệm là Trung tâm Khoa học Kỹ thuật Nghĩa Đô kết hợp cùng Trung tâm Dịch vụ Du lịch Sinh thái và Giáo dục Môi trường.

Thứ ba, triển khai mô hình trồng trọt dược liệu bản địa dưới tán rừng và phát triển kinh tế vườn đồi đối với 244 loài cây thuốc phù hợp sinh cảnh vườn nhà cho 100% hộ dân tại 3 thôn người Dao (Hợp Nhất, Sổ, Yên Sơn). Mục tiêu nâng tỷ trọng thu nhập từ nguồn dược liệu gây trồng lên 25% đến 30% trong tổng thu nhập hộ gia đình vào năm 2010. Cơ quan thực hiện gồm Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, Trạm Khuyến nông huyện và Hội Đông y cơ sở.

Thứ tư, biên soạn và ban hành Bộ cẩm nang quy trình kỹ thuật thu hái bền vững cho 668 loài cây thuốc, tổ chức tối thiểu 12 khóa tập huấn chuyên môn cho hơn 2.000 lượt người dân tham gia nghề thuốc trong thời gian 18 tháng. Hướng dẫn người dân chuyển đổi phương thức từ nhổ cả cây, đào tận gốc sang thu hái luân phiên thân, lá và chừa lại gốc tái sinh. Đơn vị chủ trì là Trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Vụ Khoa học Công nghệ thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính sau đây:

Thứ nhất, Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng về 668 loài và bản đồ sinh cảnh 4 đai phân bố, giúp xây dựng phương án tuần tra bảo vệ tài nguyên rừng và phát hiện kịp thời các hành vi khai thác dược liệu trái phép.

Thứ tư, các nhà khoa học, dược sĩ và viện nghiên cứu dược liệu: Cung cấp danh lục chuẩn hóa 158 họ thực vật cùng kinh nghiệm sử dụng bộ phận cây thuốc bản địa, làm cơ sở dữ liệu đầu vào cho các nghiên cứu chiết xuất hoạt chất, phân lập hợp chất tự nhiên và thử nghiệm lâm sàng tân dược.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Thực vật học và Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp khung phương pháp luận điều tra dân tộc thực vật học chuẩn mực, quy trình xử lý tiêu bản thực địa theo hệ thống Brummitt và mô hình phân tích sinh thái quần thể.

Thứ hai, các hợp tác xã y học cổ truyền và doanh nghiệp sản xuất đông dược: Nắm bắt danh mục 244 loài cây thuốc vườn nhà và kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng đối với 18 loài nguy cấp để phát triển vùng trồng nguyên liệu sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu đã ghi nhận được bao nhiêu loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Ba Vì? Luận văn đã thống kê và giám định được 668 loài cây thuốc thuộc 441 chi, 158 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Số lượng này chiếm tới 17,36% tổng số loài cây thuốc được ghi nhận trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Dạng sống nào của cây thuốc chiếm tỷ lệ lớn nhất trong khu vực nghiên cứu? Nhóm cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 196 loài (chiếm 29,34%), tiếp theo là cây thân gỗ với 169 loài (chiếm 25,30%) và cây bụi với 164 loài (chiếm 24,55%). Các loài thân thảo phân bố rộng khắp từ dưới tán rừng đến trảng cỏ và vườn nhà.

Đồng bào dân tộc bản địa tại Ba Vì khai thác và sử dụng cây thuốc như thế nào? Cộng đồng người Dao tại xã Ba Vì có hơn 90% số hộ biết sử dụng cây thuốc chữa bệnh và 40% dân số sống bằng nghề bán dược liệu. Họ có tri thức gia truyền chữa trị 29 nhóm bệnh khác nhau, sử dụng đa dạng các bộ phận từ thân, lá đến vỏ và rễ củ.

Vì sao việc khai thác cây thuốc tại Ba Vì đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng? Nguyên nhân chủ yếu do 20,21% số loài cây thuốc bị người dân thu hái toàn bộ cả cây và rễ, làm mất khả năng tái sinh tự nhiên. Bên cạnh đó, sức ép mưu sinh và tập quán thu hái tự do đã đẩy nhiều loài dược liệu quý vào tình trạng cạn kiệt.

Những loài dược liệu quý hiếm nào tại Ba Vì cần được ưu tiên bảo tồn khẩn cấp? Các loài cây thuốc có giá trị cao và đang bị đe dọa nghiêm trọng gồm Hoa tiên, Bát giác liên, Bảy lá một hoa, Râu hùm hoa tía, Rù rì bãi, Xạ đen và Bình vôi. Đây là những loài được xếp hạng ưu tiên bảo tồn nguyên vị và nhân giống chuyển vị.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập danh lục khoa học chuẩn hóa gồm 668 loài cây thuốc thuộc 441 chi, 158 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Vườn quốc gia Ba Vì, khẳng định vị thế trung tâm đa dạng sinh học dược liệu lớn của miền Bắc.
  • Cấu trúc phân loại học ghi nhận sự vượt trội của ngành Hạt kín với 644 loài (chiếm 96,40%), trong đó 10 họ thực vật tiêu biểu quy tụ tới 34,58% tổng số loài của toàn hệ thực vật làm thuốc.
  • Nghiên cứu đã làm rõ cấu trúc sinh thái với 29,34% cây thân thảo, 56,14% loài phân bố trong sinh cảnh rừng núi và phản ánh chi tiết tri thức sử dụng thuốc dân gian của 3 cộng đồng dân tộc Kinh, Mường, Dao.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp bảo tồn nguyên vị, chuyển vị, phát triển nương vườn gia đình và quy chuẩn hóa kỹ thuật thu hái mở ra hướng đi bền vững cho giai đoạn 2006 đến 2010.
  • Đây là công trình nền tảng thúc đẩy các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cùng hợp tác triển khai vùng trồng dược liệu sạch, vừa bảo tồn nguồn gen quý vừa nâng cao sinh kế cho cộng đồng địa phương.