CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý đất đai. Một số khái niệm liên quan 1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại trọng lĩnh vực đất đai a) Khái niệm khiếu nại Tất cả các Hiến pháp của Việt Nam từ năm 1959 đến năm 2013 đều nhấn mạnh về quyền khiếu nại của công dân.
Trong Hiến pháp năm 2013, Điều 30 quy định rõ ràng về quyền này: mọi người có quyền khiếu nại với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nếu họ phát hiện hành vi vi phạm pháp luật. Các bên được yêu cầu tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, và người bị thiệt hại được đảm bảo quyền lợi bồi thường theo luật. Đồng thời, luật Khiếu nại năm 2011 định rõ Khiếu nại là sự đề nghị xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính nếu chúng vi phạm pháp luật, và xác định rõ người khiếu nại và người bị khiếu nại cùng với các định nghĩa liên quan. Tổng thể, các quy định này cung cấp một cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền lợi và đảm bảo sự công bằng cho mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội.
b) Giải quyết khiếu nại Tại khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 thì: Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Theo khoản 6, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 thì: Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (Quốc hội, 2011). Điều này được hiểu rằng quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai bao gồm việc cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các bước kiểm tra, xác minh và đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại. Các cơ quan này có thẩm quyền giải 4 quyết khiếu nại và áp dụng biện pháp giải quyết phù hợp theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và lợi ích chung của xã hội và quốc gia.
Tố cáo và giải quyết Tố cáo trong lĩnh vực đất đai a) Khái niệm Tố cáo Theo Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011, tố cáo được định nghĩa là hành động của công dân, tuân thủ các quy định theo luật này, thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào gây tổn hại cho lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Các định nghĩa khác bao gồm: - Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo. - Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. b) Giải quyết tố cáo Theo Luật Tố cáo năm 2011, việc giải quyết tố cáo bao gồm các bước như tiếp nhận, xác minh và đưa ra kết luận về nội dung của tố cáo, cũng như xử lý tố cáo từ phía người giải quyết tố cáo.
Trong lĩnh vực đất đai, theo Điều 205 của Luật Đất đai năm 2013, cá nhân được quyền tố cáo các vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai. Quy trình giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về đất đai sẽ tuân thủ theo quy định của luật về tố cáo. Điều này ngụ ý rằng cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh và đưa ra kết luận về tính hợp pháp của các hành vi bị tố cáo liên quan đến đất đai, và sử dụng các biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật để bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan và tổ chức. Đặc điểm, phân loại khiếu nại, tố cáo về đất đai 1.
Đặc điểm khiếu nại, tố cáo về đất đai Quan hệ liên quan đến đất đai được xem như một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự, vì vậy, các khiếu kiện về đất đai có những đặc điểm riêng biệt so với các loại khiếu kiện hành chính khác. Điều này được thể hiện qua các điểm sau: Thứ nhất, đối tượng của các khiếu kiện về đất đai tập trung vào quyền quản lý, quyền sử dụng và các lợi ích phát sinh từ việc sử dụng tài sản đặc biệt này. Đất đai là một loại tài sản đặc biệt, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Thứ hai, những người có thể khiếu kiện về đất đai chỉ có thể là những người quản lý hoặc sử dụng đất, chứ không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai.
Quyền sử dụng đất của họ được thiết lập dựa trên các quyết định giao đất, cho thuê đất từ Nhà nước hoặc được phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác, hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Thứ ba, nội dung của các khiếu kiện về đất đai rất đa dạng và phức tạp. Trong môi trường kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất đai không chỉ đơn thuần là việc quản lý một nguồn tài nguyên sản xuất. Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại và giá cả biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường.
Thứ tư, các khiếu kiện về đất đai có thể gây ra những hậu quả xấu đa dạng, bao gồm mất ổn định chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong cộng đồng, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây trở ngại cho sản xuất và gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội. Phân loại khiếu nại, tố cáo về đất đai Khiếu nại đất đai về việc cấp (giao đất, cho thuê đất), thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Nếu việc cấp/thu hồi GCN quyền sử dụng đất do UBND cấp huyện tiến hành thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 6 đầu là chủ tịch UBND huyện. Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND huyện. (Nguyễn Mạnh Hùng, 2010) Nếu việc cấp/thu hồi GCN quyền sử dụng đất do UBND cấp tỉnh tiến hành thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chủ tịch UBND tỉnh.
Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND tỉnh. Nếu việc cấp/thu hồi GCN quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường (được UBND tỉnh ủy quyền) tiến hành thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chủ tịch UBND tỉnh. Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND tỉnh. Khiếu nại đất đai về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư: Nếu việc thu hồi đất do UBND cấp huyện quyết định thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chủ tịch UBND huyện.
Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND huyện. Nếu việc thu hồi đất do UBND cấp tỉnh quyết định thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chủ tịch UBND tỉnh. Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND tỉnh. Khiếu nại đất đai trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đất đai: Nếu tranh chấp đất đai do chủ tịch UBND huyện tiến hành giải quyết thì chủ tịch UBND tỉnh là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại liên quan đến quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của chủ tịch UBND huyện.Nếu tranh chấp đất đai do chủ tịch UBND tỉnh tiến hành giải quyết thì Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại liên quan đến quyết định quyết tranh chấp đất đai của chủ tịch UBND tỉnh.
(Nguyễn Mạnh Hùng, 2010) Khiếu nại đất đai liên quan tới quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai: Nếu quyết định xử vi phạt phạm 7 hành chính do chủ tịch UBND Xã ban hành thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chủ tịch UBND Xã. Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND Xã. Nếu quyết định xử phạt vi phạm hành chính do UBND cấp Huyện ban hành thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chủ tịch UBND Huyện. Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND Huyện.
Nếu quyết định xử phạt vi phạm hành chính do chủ tịch UBND Tỉnh ban hành thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chủ tịch UBND Tỉnh. Người khiếu nại nộp đơn khiếu nại lần đầu đến bộ phận một cửa của UBND Tỉnh. Nếu việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành bởi thanh tra viên thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp thanh tra viên đó. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của thủ trưởng thì người khiếu nại khiếu nại lần hai tới thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện hành chính.
Nội dung nghiên cứu công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 1. Tiếp nhận và xử lý thông tin khiếu nại, tố cáo về đất đai của công dân Khi nhận được tố cáo, người giải quyết tố cáo có các trách nhiệm sau: Nếu tố cáo nằm trong thẩm quyền giải quyết của đơn vị, trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận tố cáo, phải kiểm tra, xác minh thông tin về người tố cáo và quyết định thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết, đồng thời thông báo lý do cho người tố cáo, nếu cần. Trong trường hợp kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn có thể được mở rộng nhưng không quá 15 ngày. (Nguyễn Thị Bích Chiên, 2015) 8 Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận tố cáo, phải chuyển đơn tố cáo cho cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho người tố cáo.
Nếu người tố cáo đến tố cáo trực tiếp, người tiếp nhận tố cáo phải hướng dẫn họ tới cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình xử lý tố cáo, nếu phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan nhận tố cáo phải chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát để xử lý theo pháp luật.