Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý của công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính (Khoản 15, Điều 3, Luật Đất đai 2013). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất (Khoản 16, Điều 3, Luật Đất đai 2013). Giấy chứng nhận là tên gọi chung của các loại giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở (Khoản 4, Điều 3, Thông tư 24, 2014).
Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan (Thông tư số 23, 2014). Cơ sở lý luận của công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính Đất đai là tài nguyên vô cùng quan trọng đối với toàn nhân loại. Đất đai là môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, là nơi diễn ra mọi hoạt động của xã hội, là nơi xây dựng trụ sở Quốc phòng an ninh, công trình phúc lợi phục vụ đời sống của người dân. Song đất đai là tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu về đất đai ngày một tăng gây khó khăn trong quá trình sử dụng đất, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai.
Đặc biệt hiện nay do quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá diễn ra mạnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhất là khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại WTO, đó là động lực để tiến tới xu hướng toàn cầu hoá, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế đất nước. Và đây cũng chính là nguyên nhân kéo theo nhu cầu về nhà ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng lên làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm đi, gây khó khăn trong côgn tác quản lý đất đai. Vì vậy với mỗi quốc gia thì công tác quản lý đất đai đều đóng vai trò rất quan trọng.
Đối với nước ta, công tác quản lý đất đai được Đảng và Nhà nước quan tâm sâu sắc. Thực chất của việc quản lý đất đai chính là việc quản lý thửa đất với 3 nội dung chính là diện tích ranh giới thửa đất, mục đích sử dụng của thửa đất và người sử dụng đất. Đăng ký, cấp GCNQSDĐ và lập hồ sơ địa chính là một công cụ để bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích công dân. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay công tác này cũng gặp những khó khăn trên cả hai phương diện chủ quan và khách quan.
Công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC đem lại những lợi ích đối với Nhà nước và xã hội là: - Phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế sản xuất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất. - Phục vụ quy hoạch; - Giám sát giao dịch đất đai; - Phục vụ quản lý trật tự trị an. Lợi ích đối với công dân là: - Tăng cường về chủ quyền đối với đất đai; - Khuyến khích đầu tư cá nhân; - Mở rộng khả năng vay vốn; - Hỗ trợ giao dịch về đất đai; - Giảm tranh chấp đất đai. Với những lợi ích như trên cho thấy công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC là một công việc không thể thiếu trong quản lý Nhà nước về đất đai.
* Khái niệm GCNQSDĐ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất (Điều 3, Luật đất đai, 2013). * Ý nghĩa của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và ích hợp pháp của người sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích để nhà nước tiến hành các biện pháp quản lý nhà nước đối với đất đai, người sử dụng đất an tâm khai thác mọi tiền năng của đất, đồng thời phải có nghĩa vụ bảo vệ, cải tạo nguồn tài nguyên đất cho thế hệ mai sau. Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất.
* Vai trò của cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một công cụ quản lý đất đai vô cùng quan trọng, giúp cho nhà nước quản lý đất đai một cách hiệu quả và khoa học, là căn cứ quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất và là cơ sở để các đối tượng khác như ngân hàng, các công ty…đưa ra các quyết định liên quan đến quá trình quản lý, sử dụng đất, là một công cụ mang nhiều ý nghĩa to lớn đối với xã hội (Quyết định 08, 2006). Căn cứ pháp lý của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính 1. Thời kỳ từ 01/7/2004 đến 01/7/2014 Trong quá trình thực hiện Luật Đất đai 1993 đã xuất hiện nhiều vấn đề mới và có nhiều vấn đề chưa được đề cập đến.
Tuy đã được sửa đổi bổ sung và các năm 1998 và 2001 nhưng vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho quá trình quản lý và sử dụng đất. Vì vậy ngày 26/11/2003, Luật Đất đai 2003 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua, thay thế cho Luật Đất đai 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều (của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Luật Đất đai năm 1993) năm 1998 và năm 2001. Luật Đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đã một lần nữa khẳng định:“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”(Luật Đất đai năm 1993, 2003). Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề đất đai, đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm quản lý đất đai, điều chỉnh các mối quan hệ đất đai theo kịp với tình hình thực tế.
Đầu tiên là Hiến pháp 1992, tiếp đó là Luật đất đai các năm 1987, 1993, 2003, các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các năm 1998, 2001 và gần đây nhất là sự ra đời của Luật Đất đai năm 2013 cùng với các văn bản pháp luật có liên quan (Hiến pháp Việt Nam năm 1980, 1992). Từ khi Luật Đất đai 2003 ra đời, để nhanh chóng áp dụng hiệu quả Luật Đất đai vào thực tế, các cơ quan Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật: - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003; - Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ TN&MT về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; - Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc thu tiền sử dụng đất; - Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 do Bộ TN&MT ban hành quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ TN&MT ban hành quy định bổ sung về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Chỉ thị số 1474/CT-TTg năm 2011 do Thủ tướng Chính phủ ban hành về thực hiện nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp GCNQSDĐ, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; - Ngày 01/01/2012 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu lực thi hành. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nhìn chung, các văn bản pháp luật giai đoạn này đã thể hiện phần nào tính tập trung thống nhất từ Trung ương tới cơ sở, đáp ứng một phần yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai trong cả nước. Thời kỳ từ 01/7/2014 đến nay - Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. - Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT, 24/2014/TT-BTNMT, 25/2014/TT- BTNMT ngày 19/05/2004 của Bộ Tài nguyên và môi trường. - Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “Đất đai phải được phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao…”,“Thu hẹp các đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất”. Nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lý nghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng…”.
Trên tinh thần của Nghị quyết, Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014).