CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính 1. Lịch sử ĐKĐĐ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở Việt Nam 1. Thời kì trước năm 1945 Ở Việt Nam, công tác đạc điền và quản lý điền địa được bắt đầu làm từ thế kỷ thứ VI trở lại đây và nổi bật nhất là: * Thời kì Gia Long Đất đai được quản lý bằng sổ địa bạ được lập cho từng xã phân biệt rõ đất công điền và đất tư điền.
Và trong đó ghi rõ họ tên điền chủ, diện tích, tứ cận, đẳng hạng để tính thuế. Có 3 bộ được lưu ở 3 cấp: bản Giáp được lưu ở bộ Hộ, bản Bính ở dinh Bố Chánh, bản Đinh ở xã sở tại. Theo quy định, hàng năm thì tiểu tu, 5 năm thì phải đại tu một lần. Các viên chức trong làng lập sổ mô tả ghi các thửa đất, ruộng kèm theo sổ Địa bộ có ghi diện tích, loại đất.
Quan Kinh Phái và viên Thơ Lại có nhiệm vụ ký xác nhận vào sổ mô tả. Quan phủ căn cứ vào đơn thỉnh cầu của điền chủ khi cần thừa kế, cho, bán hoặc từ bỏ quyền phải xem xét ngay tại chỗ sau đó trình lên quan Bố Chánh và ghi vào sổ Địa bộ. (Nguyễn Thị Thu Hương, 2018) * Thời kì Pháp thuộc Thời kỳ này tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau: • Chế độ điền thổ tại Nam Kỳ: Pháp đã xây dựng được hệ thống bản đồ giải thửa được đo đạc chính xác và lập sổ điền thổ. Trong sổ điền thổ, mỗi trang sổ thể hiện cho một lô đất của mỗi chủ sử dụng trong đó ghi rõ: diện tích, nơi toạ đạc, giáp ranh và các vấn đề liên quan đến sở hữu và sử dụng.
(Nguyễn Thị Thu Hương, 2018) 3 • Chế độ quản thủ địa chính tại Trung Kỳ: đã tiến hành đo đạc bản đồ giải thửa, sổ địa bộ, sổ điền chủ, tài chủ bộ. (Nguyễn Thị Thu Hương, 2018) • Chế độ điền thổ và quản thủ địa chính tại Bắc Kỳ: Do đặc thù đất đai ở miền Bắc manh mún, phức tạp nên mới chỉ đo đạc được các lược đồ đơn giản và lập được hệ thống sổ địa chính. Sổ địa chính lập theo thứ tự thửa đất ghi diện tích, loại đất, tên chủ. Ngoài ra còn được lập các sổ sách khác như sổ điền chủ, sổ khai báo… (Nguyễn Thị Thu Hương, 2018) Nhìn chung, thời kỳ này áp dụng nhiều chế độ quản lý, nhiều loại hồ sơ khác nhau để vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh và vừa tính tới mục tiêu xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính thống nhất.
Tuy nhiên, trong các chế độ cũ có nhiều chủng loại hồ sơ, bao gồm hai nhóm tài liệu: nhóm lập theo thứ tự thửa và nhóm lập theo thứ tự chủ sử dụng để tra cứu. Hệ thống hồ sơ ngày càng nhiều tài liệu, điều đó phản ánh lịch sử sử dụng đất phức tạp và tình trạng sử dụng đất ngày càng manh mún ở Việt Nam. Thời kỳ Mỹ Ngụy tạm chiếm miền Nam (1954 – 1975) Thời kỳ này tồn tại hai chính sách ruộng đất: một chính sách ruộng đất của chính quyền cách mạng và một chính sách ruộng đất của chính quyền Ngụy. * Tân chế độ điền thổ: Theo Sắc lệnh 1925 miền Nam Việt Nam áp dụng chế độ điền thổ, đây là chế độ được đánh giá là chặt chẽ có hiệu quả nhất thời Pháp thuộc.
Hệ thống hồ sơ thiết lập theo chế độ này gồm: bản đồ giải thửa, sổ điền thổ (lập theo lô đất) ghi rõ diện tích, nơi tọa lạc, giáp ranh, biến động tăng giảm, tên chủ sở hữu, sổ mục lục lập theo tên chủ, ghi số hiệu tất cả các thửa đất của mỗi chủ. Toàn bộ tài liệu trên lập thành hai bộ lưu tại Ty điền địa và xã sở tại. Chủ sở hữu mỗi lô đất được cấp một bằng khoán điền thổ. (Nguyễn Thị Thu Hương, 2018) * Chế độ quản thổ điền địa: Theo chế độ này phương pháp đo đạc đơn giản, các xã có thể tự đo vẽ lược đồ.
Hồ sơ gồm: sổ điạ bộ lập theo thứ tự thửa (mỗi trang sổ lập 5 thửa), sổ điền chủ lập theo chủ sử dụng (mỗi chủ một trang), sổ mục lục ghi tên chủ để tra cứu. Hồ sơ cũng lập thành hai bộ lưu ở Ty điền địa và xã Sở tại. Thời kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam * Sau Cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1979: Sau cải cách ruộng đất chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo. Tiếp đó là phong trào làm ăn tập thể ruộng đất tập trung vào hợp tác xã.
Do điều kiện thiếu thốn, chiến tranh kéo dài hệ thống hồ sơ chế độ cũ để lại không được chỉnh lý và không sử dụng được. Hệ thống tài liệu đất đai chủ yếu là bản đồ giải thửa đo đạc thủ công bằng thước dây, bản đạc cải tiến và sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất. (Nguyễn Thị Thu Hương, 2018) * Từ năm 1980- 1988: Hiến pháp năm 1980 ra đời quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Nhà nước quan tâm đến công tác quản lý đất đai để quản chặt và nắm chắc quỹ đất trong cả nước.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hệ thống quản lý đất đai của toàn quốc còn nhiều hạn chế và chưa có biện pháp cụ thể để quản lý toàn bộ đất đai. Nhà nước mới chỉ quan tâm đến việc quản lý đất nông nghiệp cho nên mới xảy ra tình trạng giao đất, sử dụng đất tùy tiện đối với các loại đất khác. Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Quyết định, Thông tư, Chỉ thị như: Quyết định số 201/QĐ – CP ngày 01/7/1980 về công tác quản lý đất đai trong cả nước. Chỉ thị số 299/CT – TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện công tác đo đạc, ĐKĐĐ, thống kê đất đai, phân hạng đất.
Quyết định số 56/QĐ – ĐKTK ngày 05/11/1981 về việc điều tra đo đạc, kê khai đăng ký và lập hồ sơ ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ để đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai. Quyết định số 56 ban hành đã làm cho công tác quản lý đất đai có bước đột phá mới. Các tài liệu của hệ thống quản lý này bao gồm: biên bản xác định địa giới hành chính; sổ dã ngoại; biên bản và kết quả chi tiết kiểm tra đo đạc ngoài thực địa, trong phòng; đơn đăng ký quyền sử dụng đất; bản kê khai ruộng đất của tập thể; bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất không hợp pháp; sổ đăng ký ruộng đất cho tập thể, cá nhân; sổ mục kê; biểu tổng hợp diện tích; mẫu giấy chứng nhận; biên bản thông báo công khai hồ sơ đăng ký. 5 * Từ năm 1988 đến 01/7/2004: Năm 1988, Luật Đất đai đầu tiên được ban hành nhằm đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp.
Giai đoạn này công tác cấp GCNQSDD và hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính là một nhiệm vụ bắt buộc và bức thiết của công tác quản lý, là cơ sở cho việc tổ chức thực hiện Luật Đất đai. Do yêu cầu thực tế, để đáp ứng yêu cầu công việc và kế thừa sản phẩm theo Chỉ thị 299/CT- TTg ngày 10/11/1980 của Tổng cục quản lý ruộng, Quyết định số 201/ĐKTK ngày 24/7/1989 về việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận và Thông tư số 302/TT- ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thi hành Quyết định 201/ĐKTK. Chính việc ban hành những văn bản này mà công tác quản lý đất đai đã có bước phát triển mới, công tác ĐKĐĐ có thay đổi mạnh mẽ và chúng được thực hiện đồng loạt vào những năm tiếp theo trên phạm vi cả nước. (Nguyễn Thị Thu Hương, 2018) * Từ khi có Luật Đất đai 2003 đến 01/7/2014: Ngày 16/11/2003, Luật Đất đai 2003 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004.
Luật Đất đai 2003 đã nhanh chóng đi vào đời sống và góp phần giải quyết những khó khăn vướng mắc mà Luật Đất đai giai đoạn trước chưa giải quyết được. Sau khi Luật Đất đai 2003 ra đời, Nhà nước đã ban hành các văn bản dưới luật để cụ thể hóa trong quá trình thực hiện: Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 do Chính phủ ban hành. Thông tư 28/2004/TT- BTNMT ngày 01/11/2004 hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Thông tư 29/2004/TT- BTNMT ngày 01/11/2004 hướng dẫn lập hồ sơ địa chính.
Thông tư 08/2007/TT- BTNMT ngày 02/8/2007 hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Thông tư 09/2007/TT- BTNMT ngày 02/8/2007 hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. Nghị định 88/2009/NĐ- CP ngày 19/10/2009 hướng dẫn về việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. 6 Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về cấp GCN, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Những vấn đề về công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và lập hồ sơ địa chính 1. Khái niệm đăng ký đất đai Theo Khoản 15 Điều 3 Luật Đất đai 2013, ĐKĐĐ là thủ tục hành chính bắt buộc do cơ quan Nhà nước thực hiện và được thực hiện với tất cả các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. ĐKĐĐ là công việc để thiết lập lên hệ thống hồ sơ địa chính đầy đủ nhất cho tất cả các loại đất trong phạm vi địa giới hành chính để thực hiện cấp GCN cho các đối tượng đủ điều kiện, làm cơ sở để Nhà nước quản lý, nắm chắc đến từng thửa đất và từng mục đích sử dụng đất. Khái niệm Giấy chứng nhận Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCN) là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
Giấy chứng nhận được cấp cho từng thửa đất gồm 2 bản, trong đó một bản cấp cho người sử dụng đất, một bản lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.