Luận văn thạc sĩ đánh giá công tác chuyển nhượng thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố lạng sơn giai đoạn 2012 2015

Luận văn thạc sĩ đánh giá công tác chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất tại Lạng Sơn giai đoạn 2012-2015, phân tích hiệu quả và thực trạng.

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Đánh giá công tác chuyển nhượng thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất tại Lạng Sơn 2012 2015

Nghiên cứu đánh giá công tác chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất tại Lạng Sơn giai đoạn 2012-2015 tập trung vào việc phân tích thực trạng và hiệu quả quản lý đất đai. Đánh giá công tác này nhằm xác định những điểm mạnh, yếu trong quy trình thực hiện các quyền sử dụng đất. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, và tặng cho quyền sử dụng đất là các hình thức phổ biến, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ từ cơ quan chức năng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết của việc cải thiện thủ tục chuyển nhượng đất, thủ tục thừa kế đất, và thủ tục tặng cho đất để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

1.1. Thực trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Thực trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Lạng Sơn giai đoạn 2012-2015 cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng giao dịch. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra chủ yếu ở các khu vực đô thị, nơi có nhu cầu cao về đất ở và kinh doanh. Tuy nhiên, việc thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thời gian xử lý hồ sơ và sự thiếu đồng bộ trong quy trình. Điều này đòi hỏi sự cải tiến trong quản lý đất đai để đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân.

1.2. Thực trạng thừa kế quyền sử dụng đất

Thực trạng thừa kế quyền sử dụng đất tại Lạng Sơn giai đoạn 2012-2015 phản ánh sự phức tạp trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý. Thừa kế quyền sử dụng đất thường liên quan đến nhiều bên và yêu cầu sự minh bạch trong phân chia tài sản. Thủ tục thừa kế đất còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc xác định quyền thừa kế và thời gian hoàn thành thủ tục. Điều này cần được cải thiện thông qua việc đơn giản hóa quy trình và tăng cường hỗ trợ pháp lý cho người dân.

1.3. Thực trạng tặng cho quyền sử dụng đất

Thực trạng tặng cho quyền sử dụng đất tại Lạng Sơn giai đoạn 2012-2015 cho thấy sự gia tăng trong các giao dịch tặng cho, đặc biệt là giữa các thành viên trong gia đình. Tặng cho quyền sử dụng đất là hình thức phổ biến nhằm chuyển giao quyền sử dụng đất mà không cần thanh toán tiền. Tuy nhiên, thủ tục tặng cho đất còn nhiều rườm rà, đòi hỏi sự đơn giản hóa và minh bạch hơn. Việc cải thiện quy trình này sẽ giúp người dân dễ dàng thực hiện quyền tặng cho đất theo đúng quy định pháp luật.

II. Hiệu quả quản lý đất đai tại Lạng Sơn 2012 2015

Hiệu quả quản lý đất đai tại Lạng Sơn giai đoạn 2012-2015 được đánh giá thông qua việc phân tích các chỉ số về quản lý và sử dụng đất. Quản lý đất đai tại Lạng Sơn đã đạt được một số thành tựu, đặc biệt là trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện các chính sách đất đaipháp luật đất đai. Việc cải thiện hiệu quả quản lý đất đai đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và sự tham gia tích cực của người dân.

2.1. Đánh giá hiệu quả quản lý đất đai

Đánh giá hiệu quả quản lý đất đai tại Lạng Sơn giai đoạn 2012-2015 cho thấy sự cần thiết của việc cải thiện các quy trình quản lý. Hiệu quả quản lý đất đai được đo lường thông qua các chỉ số như thời gian xử lý hồ sơ, mức độ hài lòng của người dân, và sự tuân thủ pháp luật. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù đã có nhiều cải tiến, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường minh bạch trong quản lý đất đai.

2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất đai

Để nâng cao hiệu quả quản lý đất đai tại Lạng Sơn, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Giải pháp về tuyên truyền và phổ biến pháp luật sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình. Giải pháp cải tiến thủ tục hành chính đòi hỏi sự đơn giản hóa và minh bạch trong quy trình xử lý hồ sơ. Ngoài ra, giải pháp về đầu tư cho con người và cơ sở vật chất sẽ giúp nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan chức năng. Cuối cùng, giải pháp về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai sẽ đảm bảo tính chính xác và kịp thời trong quản lý đất đai.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về QSD đất đai Nhà nước là người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về đất đai theo quy hoạch, kế hoạch và trên cơ sở những quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với các quyền năng đó, cũng không được hiểu rằng Nhà nước có quyền sở hữu về đất đai mà chỉ là đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu đó trên thực tế.

Vậy chủ sở hữu của đất đai là toàn dân, Nhà nước là người đại diện, còn mỗi người dân thực hiện quyền của mình như thế nào? Quyền sở hữu toàn dân về đất đai là quyền tối cao, thiêng liêng và không thể chia cắt, chủ sở hữu chỉ có thể là một, đó là toàn dân, nhưng mỗi người dân không phải là một chủ sở hữu của khối tài sản chung đó, không phải là các đồng chủ sở hữu đối với đất đai. Nhưng người dân (tổ chức và cá nhân, hộ gia đình) có QSDĐ. Thông qua Nhà nước - cơ quan đại diện thực hiện quyền sở hữu, người dân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng. Điều này đã được Hiến pháp cũng như Luật Đất đai hiện hành ghi nhận.

Vì vậy, trong Luật Đất đai năm 1993 [20] đã xuất hiện khái niệm “quyền sử dụng đất” và “người sử dụng đất”, hay nói cách khác là QSDĐ của người sử dụng. Theo điều 1 Luật Đất đai 1993: “. Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất.

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trong Luật này gọi chung là người sử dụng đất” [20] “Quyền sử dụng đất” là một khái niệm có tính sáng tạo đặc biệt của các nhà lập pháp Việt Nam. Trong điều kiện đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân 5 và không thể phân chia thì làm thế nào để người dân thực hiện được quyền của mình? Để người dân có thể khai thác, sử dụng đất đai có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đời sống mà lại không làm mất đi ý nghĩa tối cao của tính toàn dân, không mất đi vai trò quản lý với tư cách đại diện chủ sở hữu của Nhà nước? Khái niệm “quyền sử dụng đất” của “người sử dụng đất” chính là sự sáng tạo pháp luật, giải quyết được mâu thuẫn nói trên và làm hài hoà được các lợi ích của quốc gia, Nhà nước và mỗi người dân [20] Nội dung QSDĐ của người sử dụng đất bao gồm các quyền năng luật định: quyền chiếm hữu (thể hiện ở quyền được cấp GCNQSDĐ, quyền được pháp luật bảo vệ khi bị người khác xâm phạm); quyền sử dụng (thể hiện ở quyền khai thác lợi ích của đất và được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao) và một số quyền năng đặc biệt khác tùy thuộc vào từng loại chủ thể và từng loại đất sử dụng. Tuy nhiên, nội dung QSDĐ được thể hiện có khác nhau tùy thuộc vào người sử dụng là ai, sử dụng loại đất gì và được Nhà nước giao đất hay cho thuê đất. Để không mất đi vai trò quản lý với tư cách đại diện chủ sở hữu của Nhà nước? Khái niệm “quyền sử dụng đất" của “người sử dụng đất’ chính là sự sáng tạo pháp luật, giải quyết được mâu thuẫn nói trên và làm hài hòa được các lợi ích của quốc gia, Nhà nước và mỗi người dân.

(Luật Đất đai 2003) [22] Nội dung QSDĐ của người sử dụng đất bao gồm các quyền năng luật định: quyền chiếm hữu (thể hiện ở quyền được cấp GCNQSDĐ, quyền được pháp luật bảo vệ khi bị người khác xâm phạm); quyền sử dụng (thể hiện ở quyền khai thác lợi ích của đất và được hưởng thành quả lao động, kết quả đầutưtrên đất được giao) và một số quyền năng đặc biệt khác tùy thuộc vào từngloạichủ thể và từng loại đất sử dụng. Tuy nhiên, nội dung QSDĐ được th hiệncókhác nhau tùy thuộc vào người sử dụng là ai, sử dụng loại đất gì và đượ Nhà nước giao đất hay cho thuê đất? 6 QSDĐ của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất bao gồm: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” (Điều106 Luật Đất đai 2003)[22]. Đây không phải là quyền sở hữu nhưng là một quyền năng khá rộng và so với quyền sở hữu thì không khác nhau là mấy nếu xét trên phương diện thực tế sử dụng đất. Mặt khác Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước chỉ thu hồi đất vì những lý do đặc biệt, đáp ứng lợi ích quốc gia và công cộng, hết thời hạn giao đất không có nghĩa là Nhà nước thu hồi đất mà Nhà nước sẽ tiếp tục giao đất cho người sử dụng.

Trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước sẽ giao đất khác cho người sử dụng hoặc sẽ “đền bù” (Luật Đất đai 1993) [20], “bồi thường” (Luật Đất đai 2003) [22]. Như vậy, trên thực tế người được giao quyền sử dụng các loại đất này thực hiện các quyền chiếm hữu và sử dụng tương đối toàn diện, còn quyền định đoạt tuy có hạn chế trong một số quyền năng cụ thể, song đó chỉ là trên phương diện lý thuyết xét trên góc độ pháp lý, còn trên thực tế các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ cũng rất gần với khái niệm quyền định đoạt. Sau đây là nội dung cụ thể của quyền chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế sử dụng đất. - Chuyển nhượng QSDĐ: là hành vi chuyển QSDĐ, trong trường hợp người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không có khả năng sử dụng hoặc để thực hiện quy hoạch sử đụng đất mà pháp luật cho phép,.

Trong trường hợp này, người nhận đất phải trả cho người chuyển QSDĐ một khoản tiền tương ứng với mọi chi phí họ phải bỏ ra để có được quyền sử dụng đó và số đầu tư làm tăng giá trị đất đai. Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ: đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới hạn của thời gian giao đất; Nhà nước 7 có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua việc thu thuế chuyển QSDĐ, thuế sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà nước có thể quy định một số trường hợp không được chuyển QSDĐ; mọi cuộc chuyển nhượng QSDĐ đều phải đăng ký biến động về đất đai, nếu không, sẽ bị xem là hành vi phạm pháp (Luật Đất đai 1993) [20], (Luật Đất đai 2003) [22] - Cho, tặng, thừa kế QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ trong tình huống đặc biệt, người nhận QSDĐ không phải trả tiền nhưng có thể phải nộp thuế. Do nhu cầu của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, việc chuyển QSDĐ không chỉ dừng lại trong quan hệ dân sự mà có thể phát triển thành các quan hệ thương mại, dịch vụ; giá trị chuyển nhượng QSDĐ chiếm một tỉ trọng rất có ý nghĩa trong các giao dịch trên thị trường bất động sản. Quyền sở hữu, sử dụng đất ở một số nước trên thế giới 1.

Các nước phát triển Tại các nước phát triển, đa số các nước đều thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, do đó đất đai được mua bán, trao đổi trong nền kinh tế tuy có một số đặc điểm riêng so với những hàng hóa tư liệu tiêu dùng hoặc tư liệu sản xuất khác. Thụy Điển Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai về cơ bản là dựa trên việc sở hữu tư nhân về đất đai và nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực, ví dụ như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường. Hoạt động giám sát là một hoạt động phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật về chi tiết được hình thành khác nhau.

Hệ thống pháp luật về đất đai của Thụy Điển gồm có rất nhiều các đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý 8 đất đai. Các hoạt động cụ thể như hoạt động địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và việc xây dựng ngân hàng dữ liệu đất đai v. đều được luật hoá. Dưới đây là một số điểm nổi bật của pháp luật, chính sách đất đai của Thụy Điển: - Việc đăng ký quyền sở hữu: Việc đăng ký quyền sở hữu khi thực hiện chuyển nhượng đất đai: Toà án thực hiện đăng ký quyền sở hữu khi có các chuyển nhượng đất đai.

Người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi mua. Bên mua nộp hợp đồng chuyển nhượng để xin đăng ký. Toà án sẽ xem xét, đối chiếu với Sổ đăng ký đất. Nếu xét thấy hợp pháp, sẽ tiến hành đăng ký quyền sở hữu để người mua là chủ sở hữu mới.

Các bản sao của hợp đồng chuyển nhượng sẽ lưu tại toà án, bản gốc được trả lại cho người mua. Toà án cũng xem xét các hạn chế về chuyển nhượng của bên bán (ví dụ cấm bán). Đăng ký đất là bắt buộc nhưng hệ quả pháp lý quan trọng lại xuất phát từ hợp đồng chứ không phải từ việc đăng ký. Vì việc chuyển nhượng là một hợp đồng cá nhân (không có sự làm chứng về mặt pháp lý và không có xác nhận của cơ quan công chứng) nên rất khó kiểm soát việc đăng ký.

Nhưng ở Thụy Điển, hầu như tất cả các chuyển nhượng đều được đăng ký. Vì việc đăng ký sẽ tăng thêm sự vững chắc về quyền sở hữu của chủ mới, tạo cho chủ sở hữu mới quyền được ưu tiên khi có tranh chấp với một bên thứ ba nào đó và quan trọng hơn, quyền sở hữu được đăng ký rất cần thiết khi thế chấp. Nguyễn Thị Thu Hồng (2000), "Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của vương quốc Thụy Điển", Báo cáo chuyên đề Tổng hợp về Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới, Vụ Hợp tác Quốc tế và Khoa học Công nghệ, Hà Nội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Công Tác Chuyển Nhượng, Thừa Kế, Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất Tại Lạng Sơn (2012-2015)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và thực tiễn liên quan đến việc chuyển nhượng, thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất tại tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn 2012-2015. Tài liệu này không chỉ đánh giá hiệu quả của các chính sách và quy định hiện hành mà còn chỉ ra những thách thức và bất cập trong công tác quản lý đất đai. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức giải quyết tranh chấp và các vấn đề pháp lý liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết về quyền sử dụng đất.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp thường gặp và thực tiễn giải quyết tại toà án nhân dân huyện đông anh thành phố hà nội, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực sử dụng đất và thực tiễn thi hành tại huyện kim bôi tỉnh hòa bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vi phạm trong lĩnh vực đất đai và cách thức xử lý. Cuối cùng, tài liệu Luận văn đánh giá công tác giải quyết tranh chấp khiếu nại tố cáo về đất đai tại huyện hoành bồ tỉnh quảng ninh giai đoạn 2013 2015 sẽ cung cấp thêm thông tin về công tác giải quyết tranh chấp đất đai tại một địa phương khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này.