ĐẶT VẤN ĐỀ Đất nước ta đang trong quá trình hiện đại hóa công nghiệp hóa đất nước, nhu cầu sử dụng đất đai trong công tác mở rộng phát triển đô thị, xây dựng khu công nghiệp, khu du lịch – dịch vụ, khu dân cư, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân ngày càng tăng. Việc thu hồi đất, quy hoạch lại đất đai đáp ứng cho những nhu cầu trên một cách khoa học, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững lâu dài và bền vững là một vấn đề lớn và cấp thiết. Sau gần 30 năm đổi mới toàn diện, đất nước ta đã thu được thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, nhịp độ phát triển kinh tế nhanh, tăng trưởng khá ổn định, bền vững, đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, phát triển kinh tế nhiều thành phần tạo điều kiện phát huy các nguồn lực để đầu tư phát triển. Các dự án đầu tư ngày càng tăng kèm theo đó là tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ trên cả nước, tạo sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất công nghiệp, dịch vụ và đất đô thị ngày càng lớn.
Trước thực trạng như vậy công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng đang rất được xã hội quan tâm. Bồi thường và giải phóng mặt bằng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của tổ chức cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn tới tình hình kinh tế chính trị - xã hội của địa phương sau khi tái định cư cho người dân. Bồi thường và giải phóng mặt bằng là một lĩnh vực nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như thương lượng giá đền bù hợp lý với người dân, tái định cư và giải quyết hậu quả sau khi giải phóng mặt bằng. Do vậy cần áp dụng linh hoạt các quy định của pháp luật vào điều kiện thực tế của địa phương.
9 Công tác giải phóng mặt bằng là một việc làm hết sức khó khăn và phức tạp. Bởi công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, của hộ gia đình và cá nhân. Thực tế qua nhiều dự án cho thấy công tác giải phóng mặt bằng vẫn còn nhiều bất cập, gặp nhiều khó khăn. Khó khăn trong việc xác định giá đền bù, giá đền bù thường thấp hơn so với giá thực tế, khó khăn trong việc tổ chức tái định cư cho người dân.
Ngày nay, dân số ngày càng tăng, xã hội càng phát triển thì nhu cầu về sử dụng đất đai ngày càng lớn, công tác quản lý đất đai cần được chú trọng và quản lý chặt chẽ. Để thực hiện tốt việc quản lý sử dụng đất đai một cách hiệu quả, chặt chẽ, tiết kiệm, hợp lý thì công tác bồi thường giải phóng mặt bằng là rất quan trọng. Nó cần có sự quan tâm, sự phối hợp đồng bộ của người dân, các cấp, các ngành và của toàn xã hội để triển khai một cách hiệu quả nhất. Thành phố Lào Cai giáp các huyện Mường Khương, Bảo Thắng, Bát Xát, Sa Pa cùng của tỉnh Lào Cai.
phía bắc, thành phố giáp huyện Hà Khẩu châu tự trị dân tộc Hani và Yi Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Từ thành phố lên thị trấn du lịch Sa Pa theo Quốc lộ 4D chỉ chừng 40 km. Thành phố Lào Cai có 2 con sông chảy qua. Sông Nậm Thi chạy quanh phía bắc tỉnh, đồng thời là ranh giới tự nhiên với Trung Quốc.
Nước sông quanh năm trong xanh, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nhà máy nước của thành phố. Sông Nậm Thi hợp lưu với Sông Hồng ngay tại biên giới giữa thành phố Lào Cai và Trung Quốc. Sông Hồng sau khi được Nậm Thi hợp lưu thì chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam, mang lại nguồn phù sa màu mỡ cho đồng bằng Sông Hồng Thành phố Lào Cai nằm hai bên bờ sông Hồng. Các cây cầu Cốc Lếu, Phố Mới,.
bắc qua sông nối hai phần của thành phố. Xuất phát từ những yêu cầu đó, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên, em tiến hành nghiên cứu 10 đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án tái định cư Cầu Giang Đông – Xã Vạn Hòa – Tp Lào Cai. Mục tiêu đích của đề tài Đánh giá kết quả thực hiện công tác giải phóng mặt bằng dự án tái định cư Cầu Giang Đông – Xã Vạn Hòa – Tp Lào Cai. Tìm hiểu những thuận lợi,khó khăn và nguyên nhân tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng, qua đó đề xuất phương án có tính khả thi và rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác GPMB.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Nắm chắc những văn bản liên quan đến công tác bồi thường GPMB của Nhà nước và của Tỉnh. - Tìm hiểu thực trạng, những thuận lợi, khó khăn trong công tác bồi thường GPMB. - Tìm hiểu tiến độ bồi thường GPMB tại xã - Giúp xã khắc phục những tồn tại, đẩy nhanh tiến độ tiến tới bồi thường GPMB nhanh. - Giúp UBND xã thấy được nguyện vọng chính đáng của người dân, giải quyết những thắc mắc khi cần thiết.
Yêu cầu của đề tài - Nắm chắc Luật Đất đai, các Quyết định có liên quan đến công tác GPMB. - Nắm chắc các Nghị định, thông tư, quyết định, văn bản hướng dẫn thi hành luật và khung giá đền bù của Chính phủ và của địa phương có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. - Số liệu điều tra, thu thập phải đảm bảo chính xác, khách quan. - Phân tích và nhận xét công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án - Đề xuất phương án giải quyết dựa trên cơ sở Nghị định, Quy định và kinh nghiệm đã làm.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Bổ sung những kiến thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm ngoài thực tế và hiểu rõ hơn về công tác quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là công tác bồi thường hỗ trợ, tái định cư. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Đưa ra những giải pháp có tính khả thi, rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác bồi thường GPMB, để thực hiện công tác bồi thường GPMB tốt hơn. 12 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về bồi thường giải phóng mặt bằng 2.
Các khái niệm liên quan đến công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng Công tác BT&GPMB là việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế (Luật đất đai, 2003) [18] Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất Việc bồi thường có thể bằng tiền hoặc vật chất khác, có thể do các quy định của pháp luật điều tiết hoặc do thỏa thuận của các chủ thể. (Luật đất đai, 2003) [18] Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã được giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai 2003 (Luật đất đai, 2003) [18] Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí di dời đến địa điểm mới (Luật đất đai, 2003) [18] Tái định cư: - Theo từ điển Tiếng Việt: Tái nghĩa là "hai lần hoặc lần thứ hai, lại một lần nữa". Định cư nghĩa là "ở một nơi nhất định để sinh sống, làm ăn". - Theo Ngân hàng phát triển Châu Á: Tái định cư là xây dựng khu dân cư mới, có đất để sản xuất và cơ sở hạ tầng công cộng tại một địa điểm khác.2 Vai trò của công tác bồi thường GPMB Bồi thường giải phóng mặt bằng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước.
Các công trình phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, mục đích phát triển kinh tế đều cần tới mặt bằng. Có thể nói thực hiện công tác bồi thường GPMB nhanh, hiệu quả thì công trình thực hiện đã hoàn thành được một nửa. Quá trình thực hiện công tác bồi thường GPMB còn ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân, tình hình trật tự an ninh quốc phòng.3 Đặc điểm của quá trình bồi thường và giải phóng mặt bằng Để dự án được đảm bảo đúng về tiến độ thì trước hết phải giải quyết được vấn đề về mặt bằng. Khi giải phóng mặt bằng gặp phải rất nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian, công sức và tiền của.
Hiện nay, dân cư ngày một tăng và nhu cầu sử dụng đất càng cao cho nên vấn đề giải phóng mặt bằng gặp phải khó khăn hơn khi diện tích đất ngày càng hạn hẹp và giá cả cao. Giải phóng mặt bằng là một quá trình đa dạng và phức tạp, nó thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội. Ở mỗi địa phương khác nhau nên công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng cũng có nhiều điểm khác nhau. Vì vậy quá trình bồi thường và giải phóng mặt bằng mang tính chất đa dạng và phức tạp.
- Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên các vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và trình độ dân trí khác nhau. Đối với khu vực nội thành, mức độ tập trung dân số cao, ngành nghề của dân cư đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình GPMB có đặc trưng nhất định. Đối với khu ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ. nên quá trình GPMB cũng có đặc trưng riêng của nó.
Đối với khu vực ngoại thành, hoạt động chủ yếu của dân cư là 14 sản xuất nông nghiệp, do đó GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt.