Đặt vấn đề Đất nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH đất nước, nhu cầu sử dụng đất đai cho các mục đích mở mang phát triển đô thị, xây dựng các khu du lịch, khu công nghiệp, khu dân cư, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội cũng như đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân ngày càng tăng. Việc thu hồi, bố trí, sắp xếp lại đất đai đáp ứng cho những nhu cầu trên một cách khoa học, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài và bền vững là một vấn đề lớn và cấp thiết. Bởi vậy mà công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) đóng một vai trò hết sức quan trọng. Vì nó là điều kiện ban đầu để triển khai nhanh, đúng tiến độ nhưng ngược lại nó cũng có thể trở thành rào cản và luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khiếu kiện, mất ổn định an ninh vì khi thực hiện công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của tổ chức, các cá nhân và hộ gia đình.
Với dân số ngày càng tăng, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn. Thực tế qua nhiều dự án cho thấy công tác GPMB vẫn còn nhiều bất cập, nhiều khó khăn. Mặc dù Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp quy phục vụ cho công tác này như nghị định số 197/NP-CP về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định trên. Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất, thông tư số 114/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định số 188/2004/NĐ-CP.
Nhưng để dung hoà giữa quyền lợi của người dân với lợi ích chung không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Do đó, cần có một cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện hơn về công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng, từ đó tìm ra những khó khăn và thuận lợi. Rồi đưa ra những giải pháp có tính khả thi để giải quyết những khó khăn đó một cách hiệu quả nhất tạo sự chặt chẽ trong việc quản lí nhà nước về đất đai và phát triển nền kinh tế của nước nhà. Trên địa bàn huyện Sơn Dương, những năm qua đã tổ chức thực hiện n 2 nhiều dự án và công tác BT&GPMB đã thu được những kết quả tốt.
Nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ không ít những khó khăn liên quan đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Do vậy cần nghiên cứu để làm rõ và tìm ra giải pháp tháo gỡ trong cơ chế tổ chức và thực hiện. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa TNMT, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Nguyễn Thị Yến, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”. Mục đích - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương và những khía cạnh liên quan tới công tác BT&GPMB.
- Tình hình quản lý và sử dụng đất tại xã Tú Thịnh. - Điều tra, đánh giá kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án mở rộng, nâng cấp khu lưu niệm cơ quan Bộ Tài chính tại xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang - Đề xuất những giải pháp khắc phục những mặt còn hạn chế trong công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng của dự án. Yêu cầu - Tìm hiểu luật đất đai 2003, các nghị định, thông tư có liên quan đến công tác bồi thường GPMB của Chính phủ cũng như của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. - Nắm chắc các quyết định, tờ trình và các văn bản khác có liên quan đến bồi thường GPMB ở địa phương.
- Điều tra thu thập kết quả của công tác bồi thường GPMB, phân tích và nhận xét, rút ra thuận lợi, khó khăn khi bồi thường dự án. - Đề xuất phương án giúp đẩy nhanh công tác bồi thường GPMB. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Việc hoàn thành đề tài sẽ là cơ sở giúp cho sinh viên củng cố và hoàn thiện kiến thức đã học, đồng thời là cơ sở để sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế công tác đền bù GPMB. n 3 - Ý nghĩa trong thực tiễn: Đề tài đánh giá, phân tích tìm ra những thuận lợi, khó khăn của công tác đền bù GPMB.
Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với thực tế của địa phương, khắc phục những bất cập còn tồn tại, góp phần đẩy nhanh công tác GPMB trong tương lai. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 2. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư - Thu hồi đất: là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này (Khoản 5, Luật Đất đai 2003).
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (khoản 6, Luật Đất đai 2003). - Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới (khoản 7, Luật Đất đai 2003). Các hình thức hỗ trợ theo Điều 17, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ qui định cụ thể như: + Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; + Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; + Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; + Hỗ trợ khác. - Tái định cư: Là trường hợp hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
Đối với địa bàn tỉnh Tuyên Quang, việc người dân cam kết tự lo được đất ở thì Nhà nước sẽ hỗ trợ bằng tiền theo qui định tại Điều 6, Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc quy định Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (hỗ trợ một khoản tiền bằng 10% giá trị quyền sử dụng đất của 01 (một) lô đất ở được bồi n 5 thường tại vị trí bị thu hồi (đối với địa bàn thị trấn và các phường thuộc thị xã Tuyên Quang); bằng 20% giá trị quyền sử dụng đất của 01 (một) lô đất ở được bồi thường tại vị trí bị thu hồi (đối với địa bàn còn lại) theo hạn mức giao đất tại Quyết định số 66/2005/QĐ-UBND ngày 04/8/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang). Nguyên tắc bồi thường 1. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP) và các Điều 44, 45 và 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP) thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau: a) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch; b) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở tái định cư thì người tái định cư phải nộp phần chênh lệch.
Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy n 6 định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước. Nhà nước điều tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các khoản hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi. Điều kiện để được bồi thường về đất 1. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.