Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 1. Một số vấn đề chung về công chức và công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 1. Khái niệm Công chức Sau khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được thông qua và có hiệu lực thi hành: Định nghĩa "công chức" được nêu rõ: Luật định nghĩa "công chức" tại Khoản 2 Điều 4, phân biệt với khái niệm "cán bộ" tại Khoản 1 Điều 4. Điểm mới, quan trọng và thành công của luật đó là việc làm rõ các khái niệm "công chức", "cán bộ" phù hợp với nhu cầu thực tiễn quản lý, giải quyết tình trạng mơ hồ trước đây.
Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 [21] quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.” Định nghĩa công chức theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019: 8 Theo Khoản 1, Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 [22]: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 đã có những thay đổi đáng kể trong việc xác định đối tượng công chức nhà nước so với Luật Công chức năm 2008. Cụ thể, Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 đã thu hẹp hơn phạm vi đối tượng công chức nhà nước. Việc thu hẹp phạm vi đối tượng công chức nhà nước nhằm mục đích phân định rõ ràng hơn giữa công chức nhà nước và các nhóm đối tượng khác, tránh tình trạng chồng chéo, mơ hồ trong việc xác định đối tượng áp dụng luật. Công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Theo quy định tại Điều 16 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 [23], chính quyền địa phương tại cấp tỉnh bao gồm: Hội đồng nhân dân tỉnh: Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND tỉnh): Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành các hoạt động trên địa bàn tỉnh. Vai trò, nhiệm vụ của UBND tỉnh: Điều 17 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh: Tổ chức và đảm bảo thực hiện Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn tỉnh. 9 Quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của tỉnh, trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của luật và các văn bản pháp luật khác. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh.
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh: Theo khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là: Cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực trên địa phương. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Theo điểm 2, Điều 1, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm các sở và cơ quan ngang sở, được gọi chung là "sở". Vị trí và chức năng của sở được quy định tại Điều 3 của Nghị định này: Sở là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Các sở thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực ở địa phương. Quá trình quản lý này được thực hiện theo quy định của pháp luật, phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Theo quy định tại Chương II của Nghị định này, hệ thống các sở thuộc UBND cấp tỉnh bao gồm 17 sở được tổ chức thống nhất ở tất cả các địa phương trong cả nước: Sở Nội vụ; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Tài chính; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Sở Tư pháp; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Xây dựng; Sở Giao thông vận tải; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Công thương; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Sở Thông tin và Truyền thông; Ban Dân tộc (ở những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống) 10 Các sở được tổ chức ở một số địa phương cụ thể, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, gồm: Sở Ngoại vụ (ở những địa phương tiếp giáp với nước ngoài hoặc có nhiều hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế); Sở Quy hoạch - Kiến trúc (ở những địa phương có nhu cầu lớn về xây dựng và phát triển đô thị); Các sở khác theo nhu cầu thực tế của từng địa phương. Công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh được tuyển dụng và quản lý theo chế độ công chức, với các chức danh, bậc lương và chế độ đãi ngộ theo quy định của pháp luật; Tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, công chức là những người thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các sở, ban, ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.
Họ có thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật và theo phân cấp, phân quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh. Công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh được chia thành các nhóm gắn với vị trí việc làm, cụ thể như sau: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Đây là nhóm công chức có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, đơn vị theo phân công. Công chức thừa hành (Công chức chuyên môn, nghiệp vụ): Nhóm này thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể theo phân công của cấp trên; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu. Công chức hỗ trợ, phục vụ: Nhóm này có nhiệm vụ hỗ trợ, phục vụ các hoạt động của cơ quan, đơn vị như hành chính, tài chính, văn thư, lưu trữ.
Mỗi vị trí việc làm trong các nhóm công chức kể trên đều có bản mô tả công việc cụ thể. Bản mô tả công việc nêu rõ các yêu cầu về: Phẩm chất chính trị, đạo đức; Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Năng lực công tác; Hiểu biết pháp luật 11 và các lĩnh vực liên quan. Các yêu cầu này tương ứng với một ngạch công chức cụ thể. Từ đó rút ra khái niệm Công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là: “Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm của các cơ quan chuyên môn; thực hiện chức năng, tham mưu giúp Giám đốc Sở các ngành, lĩnh vực địa phương theo quy định của pháp luật”.
Lý luận về đánh giá công chức Thuật ngữ "đánh giá" được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có rất nhiều khái niệm khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “Đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị” [28]. Xét về góc độ khoa học quản lý, đánh giá là quá trình thu thập và xử lý các thông tin cần thiết để định lượng tình hình thực tế và kết quả đạt được của một công việc cụ thể. Quá trình này giúp cho quá trình lập kế hoạch, quá trình đưa ra quyết định và cả quá trình hành động diễn ra hiệu quả hơn.
Đánh giá công chức là một quá trình so sánh giữa hoạt động thực tế của công chức với những tiêu chuẩn đánh giá đã được thiết lập trước đó. Quá trình này nhằm mục đích đưa ra đánh giá tổng quan về năng lực hoàn thành công việc của mỗi cá nhân, qua đó làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Nói cách khác, đánh giá công chức tạo cơ sở để xây dựng một hệ thống công chức chuyên nghiệp, năng động, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng tăng của xã hội. Đây cũng là một biện pháp quan trọng để giám sát, kiểm soát hoạt động của công chức, đảm bảo họ thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả và có trách nhiệm.Đánh giá là một công tác khó khăn, phức tạp nhưng không thể thiếu.
Từ những phân tích trên đây, có đưa ra khái niệm: “Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là quá trình phân tích, so sánh thực tế hoạt động 12 của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh với các tiêu chí, tiêu chuẩn do pháp luật quy định trong khoảng thời gian nhất định.