Tổng quan nghiên cứu

Ngành lâm nghiệp Việt Nam quản lý khoảng 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp, với mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 42-43% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020. Đây là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù, vừa tạo nguồn thu từ xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, vừa đảm nhận chức năng phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho người dân miền núi.

Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Tiếp đó, Quyết định số 78/2008/QĐ-BNN-KHCN ngày 01/7/2008 phê duyệt Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020. Tuy nhiên, sau gần một thập kỷ triển khai, việc đánh giá chiến lược này vẫn chủ yếu dừng ở thống kê kết quả so với mục tiêu, chưa dựa trên một phương pháp luận rõ ràng và hệ tiêu chí khoa học cụ thể.

Luận văn thạc sĩ "Đánh giá Chiến lược Nghiên cứu Khoa học trong Lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020" của tác giả Nguyễn Trường Quân, chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số 60340412), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, hoàn thành tháng 11/2017.

Mục tiêu tổng quát là xây dựng phương pháp luận đánh giá chiến lược phát triển theo các tiêu chí cụ thể, sau đó áp dụng vào đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp giai đoạn 2008-2016. Phạm vi thời gian giới hạn ở 8 năm thực hiện chiến lược (2008-2016); phạm vi không gian là các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức có hoạt động nghiên cứu lâm nghiệp tại Việt Nam.

Ý nghĩa lý luận nằm ở việc bổ sung luận cứ khoa học cho xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chiến lược nghiên cứu chuyên ngành. Ý nghĩa thực tiễn thể hiện qua các khuyến nghị điều chỉnh chiến lược cho Tổng cục Lâm nghiệp và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận từ hai hệ lý thuyết chính. Thứ nhất là lý thuyết kinh tế lượng vĩ mô trong đánh giá chính sách khoa học công nghệ. Richard P. Rumelt (1979) với công trình "Đánh giá Chiến lược: Lý thuyết và mô hình" đặt nền móng cho quản lý chiến lược. Từ thập niên 1980, Bayoumi, Coe và Helpman phát triển mô hình nội sinh kết hợp cơ chế gia tăng năng suất quốc gia với đầu tư nghiên cứu và phát triển. Năm 2002, Cộng đồng EU tài trợ dự án "Hộp công cụ đánh giá tác động kinh tế - xã hội của các chính sách nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ", trong đó Henri Capron, Michele Cincera và Jaime Rojo đề xuất hai công cụ then chốt là tiền kiểm (ex-ante) và hậu kiểm (ex-post).

Thứ hai là lý thuyết đánh giá chính sách công của Leslie A. Pal (2011), với quy trình hoạch định chính sách 5 bước và mô hình logic cơ bản trong đánh giá kết quả. Pal nhấn mạnh phải phân tích rủi ro và dự liệu vấn đề ngay từ khâu thiết kế, đồng thời đánh giá kết quả ở cả ba tầm: trước mắt, trung hạn và dài hạn. Mô hình này được Chính phủ Canada ứng dụng trong hoạch định và đánh giá chính sách công. Bổ sung thêm, Robert McDonald (2011) đề xuất 6 phương pháp đánh giá tác động, mỗi phương pháp đều sử dụng phân tích SWOT.

Năm khái niệm trung tâm được làm rõ: đánh giá (quá trình có hệ thống, khách quan theo định nghĩa OECD 2008), chiến lược (theo Johnson và Scholes, David), chiến lược nghiên cứu khoa học, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược, và tác động chính sách (phân biệt tác động trực tiếp - gián tiếp, dương tính - âm tính - ngoại biên).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chính gồm số liệu điều tra của Tổng cục Lâm nghiệp giai đoạn 2008-2016, Báo cáo hoạt động nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp, cùng dữ liệu thu thập trực tiếp từ Viện Điều tra Quy hoạch rừng năm 2016.

Mẫu khảo sát được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào các tổ chức đại diện cho toàn hệ thống nghiên cứu lâm nghiệp: 4 viện nghiên cứu (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy), 5 trường đại học (Đại học Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Tây Nguyên, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh), các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia trong ngành. Lý do chọn mẫu có chủ đích: các đơn vị này chiếm phần lớn khối lượng đề tài nghiên cứu lâm nghiệp cấp Bộ và cấp Nhà nước.

Ba phương pháp được kết hợp: phân tích tài liệu (tổng hợp văn bản pháp quy, báo cáo nghiệm thu, thống kê đề tài theo cơ cấu và loại hình), phỏng vấn sâu chuyên gia (lấy ý kiến bằng phỏng vấn trực tiếp và văn bản), và quan sát trong suốt quá trình nghiên cứu. Cách tiếp cận định tính kết hợp thống kê mô tả được lựa chọn vì đối tượng đánh giá là một chiến lược cấp ngành, nơi nhiều kết quả mang tính tác động dài hạn khó lượng hóa bằng mô hình kinh tế lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn xây dựng được bộ 5 tiêu chí đánh giá đặc thù cho chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp: Phù hợp/khả thi (Relevance), Tác động (Impact), Hiệu quả (Effects), Bền vững (Sustainability) và Xã hội (Social). Đây là điểm khác biệt so với bộ tiêu chí 3E phổ biến tại Nhật Bản (Efficiency, Effectiveness, Economy) hay bộ 4 tiêu chí có bổ sung tính công bằng (Equality) tại Mỹ. Tiêu chí thứ năm - tính xã hội - được bổ sung riêng để đo lường tác động tới người nghèo và nhóm yếu thế, phản ánh đặc thù ngành lâm nghiệp gắn với sinh kế miền núi.

Thứ hai, kết quả nghiên cứu phân bố rất không đồng đều giữa 6 lĩnh vực ưu tiên. Lĩnh vực quy hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng đạt 33 đề tài nghiên cứu và 138 dự án quy hoạch — chiếm khối lượng lớn nhất. Trong khi đó, lĩnh vực chính sách và thể chế lâm nghiệp chỉ hoàn thành 15 đề tài trong suốt 8 năm, tương đương chưa đến 2 đề tài mỗi năm. Chênh lệch giữa hai lĩnh vực lên tới hơn 2 lần về số đề tài nghiên cứu và gấp nhiều lần nếu tính cả dự án.

Thứ ba, cơ cấu nghiên cứu nghiêng mạnh về kỹ thuật. Trong 33 đề tài lĩnh vực điều tra quy hoạch, nghiên cứu đề xuất giải pháp lâm sinh chiếm 11 đề tài (33,3%), ứng dụng khoa học công nghệ trong điều tra rừng 8 đề tài (24,2%), quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 6 đề tài (18,2%), xây dựng quy trình quy phạm 3 đề tài (9,1%) và nghiên cứu khác 5 đề tài (15,2%). Trong 138 dự án quy hoạch, quy hoạch sử dụng rừng và đất lâm nghiệp chiếm 46 công trình (33,3%), điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng 42 công trình (30,4%), quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 12 công trình (8,7%), đầu tư lâm nghiệp 11 công trình (8,0%) và các dự án khác 27 công trình (19,6%).

Thứ tư, năng lực thực hiện tập trung ở số ít đơn vị. Trong lĩnh vực kinh tế - chính sách, Viện Khoa học Lâm nghiệp chủ trì 8/18 đề tài (44,4%), Trường Đại học Lâm nghiệp 7/18 (38,9%), hai đơn vị còn lại mỗi nơi 1 đề tài. Như vậy hai đơn vị đầu ngành chiếm hơn 83% khối lượng nghiên cứu.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu trên có thể được trình bày hiệu quả qua biểu đồ cột chồng so sánh số lượng đề tài giữa 6 lĩnh vực ưu tiên theo từng năm, kết hợp biểu đồ hình quạt thể hiện tỷ trọng cơ cấu loại hình nghiên cứu. Bảng chéo giữa cấp quản lý đề tài (Nhà nước - Bộ - cơ sở) và lĩnh vực nghiên cứu sẽ làm nổi bật khoảng trống ở nhóm đề tài cấp Nhà nước về chính sách.

Nguyên nhân của sự mất cân đối nằm ở ba yếu tố. Một là cơ chế phân bổ kinh phí ưu tiên các đề tài có sản phẩm hữu hình (giống mới, quy trình kỹ thuật, mô hình rừng trồng), trong khi nghiên cứu chính sách và lâm nghiệp xã hội khó lượng hóa đầu ra. Hai là đề tài cấp cơ sở tại các trường, viện có nguồn kinh phí hạn chế, chủ yếu phục vụ chuyên môn nội bộ nên đóng góp cho ngành còn khiêm tốn. Ba là bản thân chiến lược khi thiết kế đã xếp 6 lĩnh vực theo 3 cấp độ ưu tiên nhưng thiếu cơ chế giám sát tỷ trọng phân bổ giữa các lĩnh vực.

So với kết quả của Nguyễn Xuân Quát và Hoàng Văn Thắng công bố trên Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp số 3 năm 2015 về "các khoảng trống và những thách thức", luận văn xác nhận cùng một xu hướng nhưng đi xa hơn ở chỗ định lượng khoảng trống bằng số liệu cơ cấu đề tài và giải thích nguyên nhân thể chế. So với đề tài cấp Bộ số 01/2014-2015 do ThS. Nguyễn Việt Hòa chủ nhiệm về đánh giá chiến lược KH&CN quốc gia, luận văn này thu hẹp phạm vi vào một ngành cụ thể, nhờ đó xây dựng được tiêu chí gắn với đặc thù lâm nghiệp.

Điểm tích cực rõ nét là năng lực nghiên cứu đã được tăng cường thực chất. Dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2010-2016 với nguồn kinh phí lớn đã tạo ra bộ dữ liệu chi tiết về tài nguyên rừng, làm cơ sở cập nhật biến động diện tích rừng hàng năm. Nhiều công nghệ hiện đại được đưa vào ứng dụng: giải đoán ảnh vệ tinh tự động bằng phần mềm eCognition, hệ thống thông tin địa lý GIS, ảnh vệ tinh đa độ phân giải. Theo Quyết định 3158/QĐ-BNN-TCLN ngày 27/7/2016, tổng diện tích các loại rừng đã được quy hoạch trên 14 triệu ha.

Đề xuất và khuyến nghị

Tái cân đối cơ cấu phân bổ đề tài nghiên cứu. Tổng cục Lâm nghiệp và Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần nâng tỷ trọng đề tài lĩnh vực chính sách, thể chế và lâm nghiệp xã hội từ mức dưới 2 đề tài/năm hiện nay lên tối thiểu 4-5 đề tài/năm trong giai đoạn tới năm 2020, đồng thời dành riêng một dòng ngân sách cho nhóm nghiên cứu tác động xã hội của nghề rừng.

Thể chế hóa quy trình đánh giá chiến lược ba chu kỳ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nên ban hành hướng dẫn đánh giá đầu kỳ - giữa kỳ - cuối kỳ áp dụng bộ 5 tiêu chí đã đề xuất, thực hiện đánh giá giữa kỳ định kỳ 2-3 năm một lần thay cho các báo cáo thống kê thường niên hiện tại. Kết quả đánh giá phải gắn với quyết định phân bổ lại kinh phí cho chu kỳ tiếp theo.

Xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu lâm nghiệp dùng chung. Tổng cục Lâm nghiệp chủ trì thiết lập hệ thống thông tin bắt buộc cập nhật dữ liệu sau nghiệm thu đối với 100% đề tài sử dụng ngân sách nhà nước, hoàn thành trong 24 tháng. Hệ thống này khắc phục tình trạng trùng lặp đề tài giữa các viện, trường và tạo điều kiện chia sẻ kết quả nghiên cứu.

Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ có ràng buộc đầu ra. Các viện nghiên cứu cần chuyển tối thiểu 50% kết quả đề tài khả thi thành quy trình hoặc hướng dẫn kỹ thuật có thể chuyển giao, thay vì dừng ở báo cáo nghiệm thu. Cơ chế đánh giá đề tài phải bổ sung tiêu chí bắt buộc về sự tham gia của người sử dụng kết quả và mức độ ứng dụng thực tiễn sau 2 năm nghiệm thu.

Mở rộng mạng lưới nghiên cứu theo hướng đa cấp. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nên giảm dần đầu mối nghiên cứu ở Trung ương, mở rộng cơ quan nghiên cứu cấp vùng và cấp tỉnh, đồng thời khuyến khích các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và công ty lâm nghiệp đưa nghiên cứu khoa học thành nhiệm vụ thường xuyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý khoa học công nghệ ngành nông lâm nghiệp là nhóm hưởng lợi trực tiếp nhất. Bộ 5 tiêu chí đánh giá cùng các chỉ tiêu chi tiết của từng tiêu chí có thể được vận dụng ngay khi xây dựng khung giám sát cho các chương trình KH&CN cấp Bộ, hoặc khi thẩm định đề xuất chiến lược nghiên cứu cho giai đoạn sau năm 2020.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Chính sách công tìm thấy ở đây một mẫu nghiên cứu trường hợp hoàn chỉnh: từ tổng quan lý thuyết đánh giá (Rumelt, Pal, McDonald, OECD, EU) đến thao tác hóa thành bộ tiêu chí và áp dụng vào dữ liệu thực tế. Chương 1 với gần 30 trang phân tích khái niệm và tiêu chí là tài liệu tham khảo hữu ích cho phần cơ sở lý luận của các luận văn cùng hướng.

Nhà nghiên cứu lâm nghiệp tại các viện và trường đại học có thể sử dụng phần thống kê cơ cấu 33 đề tài, 138 dự án quy hoạch và 15 đề tài chính sách để định vị khoảng trống nghiên cứu, từ đó đề xuất hướng đề tài mới ở những lĩnh vực còn thưa vắng như lâm nghiệp xã hội, định giá dịch vụ môi trường rừng hay chính sách cho thuê môi trường rừng.

Cán bộ dự án của các tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực rừng và sinh kế tìm thấy trong tiêu chí tính xã hội một công cụ đánh giá tác động dự án tới người nghèo và nhóm yếu thế, phù hợp với yêu cầu báo cáo của các nhà tài trợ như FAO, UNDP, CIFOR hay JICA.

Câu hỏi thường gặp

Bộ tiêu chí của luận văn khác gì so với tiêu chí đánh giá chính sách thông thường?

Điểm khác biệt lớn nhất là tiêu chí thứ năm — tính xã hội. Các bộ tiêu chí phổ biến như 3E của Nhật Bản (hiệu lực, hiệu quả, kinh tế) hay bộ 4 tiêu chí có thêm tính công bằng của Mỹ đều xuất phát từ đánh giá chính sách kinh tế. Luận văn bổ sung tiêu chí xã hội để đo lường tác động của nghiên cứu lâm nghiệp tới người nghèo và người yếu thế, phản ánh đặc thù nghề rừng gắn với sinh kế miền núi.

Vì sao chọn giai đoạn 2008-2016 mà không phải toàn bộ chu kỳ đến 2020?

Chiến lược được phê duyệt ngày 01/7/2008 theo Quyết định 78/2008/QĐ-BNN-KHCN, luận văn hoàn thành tháng 11/2017. Giai đoạn 8 năm này đủ dài để hình thành đánh giá giữa kỳ có ý nghĩa, đồng thời kết quả còn kịp thời để phục vụ điều chỉnh chiến lược cho 3 năm cuối và tham khảo khi xây dựng chiến lược sau năm 2020.

Giả thuyết nghiên cứu có được chứng minh không?

Có. Giả thuyết cho rằng chiến lược đạt nhiều thành tựu nhưng đánh giá định kỳ thiếu phương pháp luận rõ ràng, và nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật hơn là xã hội. Số liệu xác nhận điều này: lĩnh vực quy hoạch, kỹ thuật có 33 đề tài và 138 dự án, trong khi chính sách - thể chế chỉ 15 đề tài trong 8 năm.

Kết quả chính đạt được của chiến lược là gì?

Nổi bật nhất là Dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc 2010-2016 tạo ra bộ dữ liệu chi tiết làm cơ sở cập nhật biến động diện tích rừng hàng năm. Cùng với đó là việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào điều tra rừng — giải đoán ảnh vệ tinh bằng eCognition, GIS — và dự án rà soát 3 loại rừng toàn quốc với 42 công trình điều chỉnh quy hoạch.

Luận văn có hạn chế nào cần lưu ý?

Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả, chưa áp dụng mô hình kinh tế lượng để lượng hóa đóng góp của nghiên cứu khoa học vào tăng trưởng ngành. Mẫu khảo sát tập trung ở các viện, trường đầu ngành nên góc nhìn từ cơ sở sản xuất và người dân làm nghề rừng còn hạn chế.

Kết luận

  • Luận văn xây dựng thành công bộ 5 tiêu chí đánh giá đặc thù cho chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp: phù hợp, tác động, hiệu quả, bền vững và xã hội — đóng góp lý luận chính của công trình.

  • Đánh giá thực chứng giai đoạn 2008-2016 cho thấy chiến lược đạt kết quả rõ trong lĩnh vực quy hoạch, điều tra tài nguyên rừng với 33 đề tài nghiên cứu và 138 dự án quy hoạch.

  • Khoảng trống lớn nhất nằm ở lĩnh vực chính sách, thể chế và lâm nghiệp xã hội, chỉ đạt 15 đề tài trong 8 năm, tập trung ở 2 đơn vị chủ trì chiếm hơn 83% khối lượng.

  • Năm nhóm khuyến nghị được đề xuất, trọng tâm là tái cân đối cơ cấu đề tài, thể chế hóa quy trình đánh giá ba chu kỳ và xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu dùng chung trong 24 tháng.

  • Kết quả nghiên cứu có thể tham khảo trực tiếp khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp cho giai đoạn sau năm 2020.

Bạn đọc quan tâm đến phương pháp luận đánh giá chiến lược ngành hoặc đang xây dựng khung giám sát cho chương trình KH&CN nên tải toàn văn luận văn để tham khảo chi tiết bộ tiêu chí cùng số liệu thống kê theo từng lĩnh vực ưu tiên.