LỜI MỞ ĐẦU Thời gian thực tập tốt nghiệp chính là cơ hội cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học. Đồng thời cũng giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, đúc rút kinh nghiệm qua sản xuất để từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, bồi dưỡng lòng hăng say nghề nghiệp. Thực tập tốt nghiệp không những tạo điều kiện để sinh viên áp dụng những kiến thức khoa học vào sản xuất mà còn tạo tính năng động, sáng tạo để sau này rời ghế nhà trường trở thành những kỹ sư chăn nuôi thú y có năng lực tốt, có trình độ chuyên môn giỏi đáp ứng yêu cầu của xã hội. Xuất phát từ cơ sở trên, được sự đồng ý của nhà trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá phẩm chất tinh dịch của một số giống lợn tại Trạm truyền giống gia súc huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang”.
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế không nhiều nên khóa luận tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp. MỤC LỤC Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT. Điều tra cơ bản.
Điều kiện tự nhiên. Tình hình kinh tế - xã hội. Tình hình sản xuất nông nghiệp. Quá trình thành lập và phát triển trạm.
Đánh giá chung.Nội dung, phương pháp và kết quả công tác phục vụ sản xuất. Nội dung công tác phục vụ sản xuất. Phương pháp tiến hành. Kết quả công tác phục vụ sản xuất.
Kết luận và đề nghị. 17 Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC. Tổng quan tài liệu. Cơ sở khoa học.
Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới. Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Địa điểm và thời gian tiến hành.
Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận .Đặc điểm khí hậu huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.
Một số chỉ tiêu lý học của tinh dịch lơn ngoại. Thể tích tinh dịch của hai giống lợn Landrace và Pidu. Kết quả kiểm tra hoạt lực tinh trùng (A). Kết quả kiểm tra nồng độ tinh trùng.
Kết quả kiểm tra chỉ tiêu tổng hợp VAC. Kết quả kiểm tra sức kháng của tinh trùng. Kết quả kiểm tra tỷ lệ kỳ hình (K%). Kết quả kiểm tra độ pH.
Tỷ lệ thụ thai của lợn nái phối tinh của hai giống lợn Landrace và Pidu. Kết luận, tồn tại và đề nghị. 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 53 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Cs : cộng sự G : gam ha : héc ta Kst : kí sinh trùng LY : Landrace × Yorkshire LMLM : lở mồm long móng Nxb : Nhà xuất bản TT : Thể trọng DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Cơ cấu đàn lợn của trạm .2: Lịch tiêm phòng cho đàn lợn của trại.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất .1: Thang điểm đánh giá hoạt lực của tinh trùng .2: Thang điểm đánh giá nồng độ tinh trùng dựa vào độ vẩn tinh dịch .3: Một số chỉ tiêu lý học của tinh dịch lợn ngoại .4: Thể tích tinh dịch của hai giống lợn Landrace và Pidu .5: Hoạt lực tinh trùng .6: Nồng độ tinh trùng.7: Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh .8: Sức kháng của tinh trùng (R).9: Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (k) .10: Độ pH của tinh dịch .11: Tỷ lệ thụ thai của hai giống lợn. 50 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.Biểu đồ biểu diễn ẩm độ và nhiệt độ huyện Lục Ngạn. Biểu đồ thể hiện sự thụ thai của hai giống lợn. 50 1 Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.
Điều tra cơ bản 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Trạm Truyền giống huyện Lục Ngạn thuộc Công ty cổ phần giống gia súc Bắc Giang, nằm trên địa bàn xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, ngay cạnh vườn quả Bác Hồ, cách trung tâm huyện 3 km về hướng Đông. - Phía Đông giáp thị trấn Chũ, xã Trù Hựu.
- Phía Tây giáp huyện Lục Nam. - Phía Nam giáp xã Phượng Sơn và thị trấn Chũ. - Phía Bắc giáp xã Kiên Lao. Điều kiện khí hậu, thủy văn Lục Ngạn nằm trọn trong vùng Đông Bắc, Việt Nam nên chịu ảnh hưởng vùng nhiệt đới gió mùa, trong đó có tiểu vùng khí hậu mang nhiều nét đặc trưng vùng miền núi.
- Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,5oC, vào tháng 6 cao nhất là 27,8oC, tháng 1 và tháng 2 nhiệt độ thấp nhất là 18,8oC. - Độ ẩm không khí trung bình là 81%, cao nhất là 85% và thấp nhất là 72%. - Gió bão: là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, vào mùa Đông tốc độ gió bình quân 2,2 m/s, mùa Hạ có gió mùa Đông Nam, là vùng ít chịu ảnh hưởng của bão. Đánh giá chung về điều kiện khí hậu thời tiết có thể thấy Lục Ngạn là vùng có lượng mưa thấp, ít sương muối, mưa xuân đến muộn hơn, ẩm độ không khí không quá cao, lượng bức xạ nhiệt trung bình, so với các vùng khác trong tỉnh Bắc Giang, Lục Ngạn thường có lượng mưa thấp hơn.
Điều kiện đất đai Lục Ngạn có tổng diện tích đất tự nhiên là 101. Theo kết quả điều tra bổ sung gần đây nhất cho thấy đất Lục Ngạn có 3 nhóm đất chính sau: Nhóm đất phù sa sông suối, nhóm đất bùn lầy, nhóm đất feralit.Điều kiện giao thông Lục Ngạn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, nằm trên trục đường Quốc lộ 31. Trạm được lợi thế giao thông thuận tiện sát ngay cạnh đường quốc lộ 31 là trục đường chính chạy qua huyện Lạng Giang - Lục Nam - Lục Ngạn - Sơn Động, thuận lợi cho các phương tiện xe cơ giới, giao lưu buôn bán giữa trạm và nhân dân quanh vùng. Tình hình kinh tế - xã hội 1.
Tình hình kinh tế Huyện Lục Ngạn có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động: Công nghiệp, nông – lâm nghiệp, dịch vụ, tạo mối quan hệ hữu cơ hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển. Trong đó ngành nông nghiệp vẫn chiếm 60%, bao gồm cả ngành trồng trọt và chăn nuôi. Tình hình xã hội - Dân cư: Năm 2013, dân số trung bình của huyện là 204. Mật độ dân số bình quân 202 người/km2, dân số nông thôn chiếm 96,63% và dân số thành thị 3,37%, điều đó chứng tỏ mức đô thị hoá, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Lục Ngạn còn ở mức rất thấp.
- Y tế: Trên địa bàn của huyện có bệnh viện đa khoa huyện Lục Ngạn, các xã thì gồm có các trạm y tế xã, hệ thống y tế cơ sở hoạt động khá hiệu quả. Các bác sỹ và cán bộ y tế luôn tận tụy với công việc, thường xuyên quan tâm chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân. Mọi trẻ em dưới 6 tuổi đều được tiêm phòng vaccine đầy đủ. 3 - Văn hóa: Do nhận thức nhân dân được nâng cao, đời sống được cải thiện, chương trình kế hoạch hóa gia đình phát triển rõ rệt, tỷ lệ tăng dân số của huyện tương đối thấp, các tệ nạn xã hội hầu hết được đẩy lùi.
Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phương tiện nghe nhìn như báo đài, ti vi…Đây là điều kiện thuận lợi để người dân trong huyện nắm bắt kịp thời chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các thông tin kỹ thuật phục vụ sản xuất, đời sống hàng ngày. Ngoài ra huyện còn tổ chức các hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, … - Giáo dục: Huyện luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đạo tạo, luôn đẩy mạnh các hoạt động tổ chức chăm lo cho hoạt động giáo dục, cho nên những năm gần đây, giáo dục có nhiều khởi sắc. Toàn huyện có 108 trường bao gồm mầm non, tiểu học, trung học, phổ thông, dạy nghề. Tình hình sản xuất nông nghiệp 1.
Về ngành trồng trọt Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng và là nguồn thu chủ yếu của nhân dân. Do vậy, sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển. Cây trồng chủ yếu và mũi nhọn trên địa bàn huyện là cây vải với diện tích khoảng 7.500 ha, và đang khuyến khích phát triển cam Đường canh, phát triển cây ăn quả theo hướng nâng cao chất lượng, tăng giá trị sản phẩm, khai thác tốt các lợi thế của địa phương. Ngoài ra, người dân còn thực hiện trồng các cây ngắn ngày, cây hoa màu, thâm canh tăng vụ để đạt được năng suất hiệu quả cao.
Về lâm nghiệp: Với đặc điểm của vùng trung du miền núi, do đó diện tích đất đồi núi khá lớn. Huyện đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích trồng cây lâm nghiệp ngày càng tăng, phủ xanh gần hết đất trống, đồi trọc. Về ngành chăn nuôi Cùng với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng đang phát triển không ngừng. Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho cây trồng, đồng thời cung cấp thực phẩm và thu nhập không nhỏ cho các hộ gia đình.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở huyện vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hóa đưa ra thị trường còn ít. Nhưng trong những năm gần đây, dưới sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, người dân đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng số hộ sản xuất có quy mô nhỏ, sản phẩm chăn nuôi từng bước được nâng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường, cụ thể như sau: + Trâu bò: Năm 21013 tổng đàn trâu có khoảng 14.810 con, trong đó chủ yếu là trâu bò cày kéo. Hình thức chăn nuôi là tận dụng các bãi thả tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, cho nên thức ăn cung cấp cho trâu bò chưa thật sự đầy đủ, cả số lượng và chất lượng. Việc dự trữ các loại thức ăn cho trâu bò vào vụ Đông chưa được quan tâm đầy đủ, vì vậy về mùa Đông trâu bò thường có sức khỏe kém nên hay mắc bệnh.
Chuồng trại và công tác vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều. Công tác tiêm phòng chưa triệt để, nên trâu bò hay mắc các bệnh ký trùng và một số bệnh khác. + Lợn:Năm 2013 tổng đàn lợn của huyện có 131.