Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ đảng viên A. Ê-pi-sép (1976), (chủ biên), Tóm tắt lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918-1973 [67]; đã đề cập đến nhiều nội dung hoạt động về xây dựng đội ngũ đảng viên: xây dựng các tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Hải Quân Liên Xô.
Khẳng định vai trò của các tổ chức đảng trong Quân đội và Hải quân Liên Xô, tác giả chỉ rõ: Các tổ chức đảng trong Quân đội và Hải quân Liên Xô là một trong những đội ngũ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Ban Chấp hành Trung ương thường xuyên quan tâm đến việc củng cố, nâng cao vai trò ảnh hưởng của các tổ chức đảng trong đời sống quân đội. Vai trò lãnh đạo, hướng dẫn của Đảng Cộng sản trong lực lượng vũ trang thể hiện rõ ràng trong mọi hoạt động của cơ quan chính trị, các tổ chức đảng, các tập thể đảng viên trong quân đội và hải quân. Bộ Tổ chức Thành ủy Thẩm Quyến (1996), Sổ tay công tác tổ chức đảng của đặc khu Thẩm Quyến [19]; đã bàn về xây dựng đội ngũ đảng viên, công tác quản lý đảng viên, nêu lên một trong những nguyên nhân nảy sinh nguy cơ trong cải cách, mở cửa hội nhập là coi nhẹ công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị tư tưởng và vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
Theo đó, để phát huy tốt vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng, cần phải xây dựng đội ngũ đảng viên có trình độ, xây dựng hệ thống trường đảng, chỉnh đốn phương pháp học tập, bồi dưỡng lý luận, nâng cao chất lượng giảng dạy; cần xây dựng kiện toàn chế độ học tập, phát huy tính tự giác học tập trong đảng viên, tiến luan an 11 hành thi kiểm tra và lưu giữ kết quả học tập của đảng viên, coi đó là một trong những căn cứ quan trọng để lựa chọn, đề bạt, sử dụng cán bộ. Chu Chí Hòa (2010), Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn [76]; cho rằng, cần phải đổi mới cơ cấu tổ chức, công tác giáo dục, quản lý, giám sát đảng viên; công tác lựa chọn, bổ nhiệm bí thư cấp ủy, chi bộ đảng ở nông thôn, nội dung phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn,v. phát huy tối đa vai trò là hạt nhân lãnh đạo, là thành lũy chiến đấu của Đảng ở nông thôn, nâng cao tố chất tư tưởng, đạo đức, tố chất văn hóa, khoa học, thể chất; phát huy vai trò gương mẫu tiên phong, cốt cán đi đầu của đội ngũ đảng viên ở nông thôn; đoàn kết và lãnh đạo đông đảo quần chúng nông dân tích cực triển khai công tác nông thôn của Đảng, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và hoàn thành một cách thuận lợi các nhiệm vụ công tác trong sự nghiệp xây dựng nông thôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bun-lợt Bun-nu-lắc (2011), Nâng cao chất lượng đảng viên ở tỉnh Luông Pha Băng [20]; khẳng định: chất lượng của đảng viên là nhân tố quyết định chất lượng của tổ chức đảng.
Chỉ có nâng cao chất lượng của đảng viên, mới có thể làm cho vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng cao và nhân dân các bộ tộc Lào mới tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chủ động tham gia vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng kiến thiết đất nước theo mục tiêu mà Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã xác định. Tác giả, khái quát đặc điểm về địa lý, thực trạng về chất lượng, số lượng đảng viên ở Tỉnh Luông Pha Băng; đề xuất 9 giải pháp nâng cao chất lượng đảng viên, trong đó coi việc quản lý, giáo dục, rèn luyện và PTĐV là những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đồng thời chỉ rõ: tổ chức cơ sở đảng phải tạo điều kiện cho đảng viên học tập, rèn luyện; việc kết nạp đảng viên vào Đảng phải lấy chất lượng làm gốc; kết nạp đảng viên phải đảm bảo tiêu chuẩn và các điều kiện được quy định trong Điều lệ Đảng. Lý Bồi Nguyên (2013), Thực tiễn và sự tìm tòi về xây dựng tổ chức cơ luan an 12 sở và xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bài viết trích trong cuốn sách: Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh trong tình hình mới, kinh nghiệm Trung Quốc - kinh nghiệm của Việt Nam [109]; đã đề cập vấn đề xây dựng Đảng trong doanh nghiệp phi công hữu.
“quy mô nhỏ, làm ngoài giờ, đa dạng hóa và làm thực tế”, việc xây dựng đội ngũ đảng viên và việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng hòa vào nhau, thúc đẩy lẫn nhau, cùng nhau cấu thành nội dung cơ bản của công tác xây dựng Đảng ở cơ sở. Tác giả dựa vào mục tiêu chung về xây dựng Đảng, tập trung bàn sâu vào việc xây dựng đội ngũ đảng viên có cơ cấu hợp lý, quy mô vừa mức, vai trò nổi bật; tăng cường giáo dục, quản lý, thúc đẩy xây dựng chế độ, làm cho tố chất đội ngũ đảng viên được nâng cao rõ rệt, vai trò càng thêm nổi bật; chú trọng bảo vệ quyền làm chủ của đảng viên, quan tâm việc sản xuất và sinh hoạt của đảng viên, giúp họ giải quyết những khó khăn trên thực tế. Nhóm công trình nghiên cứu về công tác phát triển đảng viên K.Sê-gô-li-ép (1982), (chủ biên) Xây dựng Đảng [118]; bàn về công tác phát triển đảng viên, tư cách đảng viên của Đảng Cộng sản Liên Xô - Nâng cao danh hiệu và ý nghĩa đảng viên trong xây dựng chủ nghĩa cộng sản, tác giả chỉ ra hoạt động của Đảng một phần lớn là do những điều sau đây quyết định: Đảng bao gồm có những ai; Đảng bổ sung vào hàng ngũ của mình những người như thế nào; Đảng có những yêu cầu gì đối với đảng viên của mình và Đảng giao cho họ những quyền hạn gì; Điều quan trọng là bổ sung vào Đảng những loại công nhân nào, xét về mặt đào tạo, về chính trị, về nghề nghiệp thì những người vào Đảng là những người như thế nào? Tác giả chỉ rõ: Điều kiện của người vào Đảng Cộng sản Liên Xô là: thừa nhận cương lĩnh và Điều lệ Đảng, tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản, hoạt động trong một tổ chức của Đảng, chấp hành nghị quyết của Đảng và đóng đảng phí đầy đủ; thực hiện tốt nghĩa vụ và quyền hạn của đảng viên; cần luan an 13 phải lựa chọn từng người vào Đảng theo đúng thủ tục, nguyên tắc và qui trình để tổ chức xem xét, kết nạp vào Đảng và nêu rõ thời gian dự bị của đảng viên. Pheng-sỏn-khun Thoong-khăm (2008), Chất lượng đội ngũ đảng viên ở nông thôn các tỉnh miền Trung nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay [127]; đã chỉ rõ, các yếu tố cấu thành đội ngũ đảng viên, làm rõ quan hệ giữa số lượng và chất lượng đảng viên là: Khi nói đến số lượng đội ngũ đảng viên và sự phân bố hợp lý là nói đến điều kiện cần; chất lượng cao là nói đến điều kiện đủ.
Tác giả, đưa ra các yếu tố cấu thành chất lượng đảng viên trên cơ sở đức, tài và cụ thể về phẩm chất chính trị; phẩm chất đạo đức; đề xuất 9 giải pháp, trong đó, công tác phát triển đảng nhằm tăng thêm sinh lực cho Đảng và công tác PTĐV phải đi đôi với việc củng cố Đảng là những giải pháp quan trọng, Tác giả chỉ ra: một mặt kết nạp những người ưu tú, đủ điều kiện, mặt khác kịp thời đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất, những người không đủ tư cách đảng viên. Lít-thi-đệt Xay-nha-chắc (2009), Công tác phát triển đảng viên ở nông thôn đồng bằng các tỉnh miền Trung nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào [141]; đã khái quát và phân tích những đặc điểm có tác động đến công tác PTĐV; luận giải những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Nhân dân cách mạng Lào về công tác PTĐV; đưa ra quan niệm về công tác PTĐV ở nông thôn các tỉnh miền Trung Lào; là tổng thể các hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng, đội ngũ đảng viên của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở và của cấp huyện, trong đó vai trò chủ đạo thuộc các tổ chức cơ sở đảng, để lựa chọn, giáo dục, rèn luyện những người ưu tú thành đảng viên cộng sản, nhằm tăng cường nguồn sinh lực, tố chất mới cho Đảng. Tác giả, đã chỉ ra vai trò, ý nghĩa và đưa ra tiêu chí đánh giá công tác PTĐV ở nông thôn các tỉnh miền Trung Lào; chỉ ra những kinh nghiệm, đề xuất sáu giải pháp tăng cường công tác PTĐV ở nông thôn các tỉnh miền Trung Lào đến năm 2020. Bun-phênh Sỉ-pa-sợt (2010), Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các sư luan an 14 đoàn bộ binh Quân đội Nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới [119]; đã đưa ra khái niệm về chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các sư đoàn bộ binh Quân đội Nhân dân Lào, chỉ ra các yếu tố tác động, xác định phương hướng, yêu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các sư đoàn bộ binh Quân đội Nhân dân Lào.
Trong đó, tác giả đề cập giải pháp cụ thể hóa điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên ở từng cấp sao cho phù hợp, cụ thể, sát thực. Theo tác giả, nếu không thực hiện tốt vấn đề này, tiêu chuẩn sẽ chung chung, không có mục tiêu cụ thể cho đảng viên rèn luyện, phấn đấu, đồng thời, không có cơ sở xem xét, đánh giá, phân tích chất lượng đảng viên; khó lựa chọn và kết nạp vào Đảng những người xứng đáng, khó đánh giá khen thưởng và kỷ luật đảng viên, xem xét đưa những người không đủ điều kiện tiêu chuẩn đảng viên ra khỏi Đảng.