Luận án TS: Chất lượng giảng viên học viện Bộ Quốc phòng VN - Nguyễn Ngọc Cường

Nghiên cứu đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên tại các học viện thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam hiện nay. Phân tích tiêu chuẩn, năng lực và thực trạng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

185
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chất lượng đội ngũ giảng viên học viện quốc phòng

Đội ngũ giảng viên ở các học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng là lực lượng nòng cốt trực tiếp nghiên cứu và giảng dạy trong hệ thống nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam. Giai đoạn hiện nay, chất lượng đội ngũ này đóng vai trò quyết định đến hiệu quả giáo dục đào tạo quân sự quốc phòng. Các học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng bao gồm Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị, Học viện Lục quân, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Hậu cần và Học viện Quân y. Mỗi học viện đảm nhận nhiệm vụ đào tạo cán bộ sĩ quan với những yêu cầu chuyên biệt. Chất lượng giảng viên được đánh giá qua nhiều tiêu chí. Các tiêu chí bao gồm trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và phẩm chất chính trị đạo đức. Quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên phải đáp ứng chuẩn quốc gia nhưng vẫn mang tính đặc thù của môi trường sư phạm quân sự.

1.1. Vai trò của đội ngũ giảng viên quân đội

Đội ngũ giảng viên quân đội giữ vị trí then chốt trong quá trình đào tạo cán bộ sĩ quan. Họ vừa là người truyền đạt kiến thức khoa học quân sự vừa là người rèn luyện phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cho học viên. Hoạt động sư phạm quân sự đòi hỏi giảng viên phải chịu tải trọng cao về trí tuệ và thể lực. Sự trưởng thành về nhân cách của cán bộ sĩ quan chỉ được hình thành qua quá trình đào tạo bồi dưỡng cộng với sự nỗ lực rèn luyện không ngừng. Giảng viên quân đội phải tuân thủ pháp luật Nhà nước và chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội.

1.2. Hệ thống các học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng

Hệ thống các học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng bao gồm nhiều cơ sở đào tạo với chức năng nhiệm vụ khác nhau. Học viện Quốc phòng đào tạo cán bộ cấp chiến lược chiến dịch. Học viện Chính trị bồi dưỡng lý luận chính trị. Học viện Lục quân đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu. Học viện Kỹ thuật Quân sự đào tạo cán bộ kỹ thuật. Học viện Hậu cần và Học viện Quân y đào tạo cán bộ chuyên ngành hậu cần và y tế quân sự. Mỗi học viện có đội ngũ giảng viên chuyên trách đảm bảo chất lượng đào tạo theo yêu cầu nhiệm vụ.

II. Phân tích thực trạng chất lượng giảng viên hiện nay

Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng giai đoạn hiện nay có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn tồn tại không ít hạn chế. Về mặt tích cực trình độ học vấn của giảng viên được nâng lên đáng kể với tỷ lệ giảng viên có học hàm học vị cao ngày càng tăng. Nhiều giảng viên đã được đào tạo bồi dưỡng ở nước ngoài tiếp cận tri thức khoa học quân sự tiên tiến. Tuy nhiên vẫn còn một số giảng viên chưa đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa về trình độ chuyên môn. Năng lực nghiên cứu khoa học của một bộ phận giảng viên còn hạn chế. Phương pháp giảng dạy truyền thống chưa được đổi mới mạnh mẽ. Đội ngũ giảng viên trẻ thiếu kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu và huấn luyện. Một số giảng viên chưa chủ động cập nhật kiến thức mới đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động sâu rộng.

2.1. Những kết quả đạt được về chất lượng giảng viên

Giai đoạn hiện nay chất lượng đội ngũ giảng viên quân đội đã có bước tiến bộ rõ rệt. Tỷ lệ giảng viên đạt chuẩn trình độ học vấn tăng đáng kể. Nhiều giảng viên đạt học hàm phó giáo sư tiến sĩ tham gia giảng dạy bậc cao. Công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ sư phạm được quan tâm đúng mức. Đội ngũ giảng viên đã tham gia tích cực vào nghiên cứu khoa học quân sự và khoa học xã hội nhân văn. Nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo quân sự quốc phòng.

2.2. Những hạn chế tồn tại trong đội ngũ giảng viên

Bên cạnh những kết quả đạt được đội ngũ giảng viên quân đội vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Một bộ phận giảng viên chưa đạt chuẩn về trình độ ngoại ngữ và tin học. Năng lực nghiên cứu khoa học ở một số đơn vị còn yếu. Phương pháp giảng dạy đổi mới chưa đồng đều giữa các học viện. Đội ngũ giảng viên kế cận chưa được bồi dưỡng đầy đủ. Công tác tuyển dụng giảng viên trẻ gặp khó khăn do chế độ đãi ngộ chưa tương xứng. Sự phối hợp giữa đào tạo lý luận và thực tiễn chiến đấu chưa chặt chẽ.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng đòi hỏi triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết phải xây dựng hoàn thiện mô hình mục tiêu đào tạo giảng viên quân đội đảm bảo theo chuẩn quốc gia nhưng mang tính đặc thù sư phạm quân sự. Tiếp theo cần đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giảng viên toàn diện khách quan. Đổi mới phương pháp giảng dạy ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo bồi dưỡng giảng viên. Hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ thu hút giảng viên có trình độ cao. Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên trẻ đảm bảo tính kế thừa bền vững.

3.1. Giải pháp về đào tạo bồi dưỡng giảng viên

Đào tạo bồi dưỡng giảng viên là giải pháp then chốt nâng cao chất lượng đội ngũ. Cần xây dựng chương trình bồi dưỡng theo hướng chuẩn hóa hiện đại hóa phù hợp yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường cử giảng viên đi đào tạo ở các nước tiên tiến. Tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về phương pháp giảng dạy mới. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học trong đội ngũ giảng viên. Xây dựng cơ chế khuyến khích giảng viên tự học tự nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm và năng lực quản lý giáo dục quân sự.

3.2. Giải pháp về chính sách đãi ngộ và phát triển nguồn nhân lực

Chính sách đãi ngộ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút và giữ chân giảng viên có trình độ cao. Cần hoàn thiện chế độ lương thưởng phụ cấp cho giảng viên quân đội tương xứng với đặc thù nghề nghiệp. Xây dựng cơ chế khen thưởng động viên giảng viên có thành tích xuất sắc. Tạo điều kiện cho giảng viên được thăng tiến trong sự nghiệp. Cải thiện điều kiện làm việc và nghiên cứu tại các học viện. Xây dựng chương trình hỗ trợ giảng viên trẻ phát triển năng lực. Đẩy mạnh xã hội hóa trong đào tạo bồi dưỡng giảng viên.

IV. Kết luận và định hướng phát triển đội ngũ giảng viên

Chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo quân sự quốc phòng giai đoạn hiện nay. Qua nghiên cứu thực trạng cho thấy đội ngũ giảng viên đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn cần tiếp tục được nâng cao để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Định hướng đến năm 2030 cần tập trung chuẩn hóa đội ngũ giảng viên theo hướng hiện đại hóa. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào giảng dạy. Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên. Xây dựng đội ngũ giảng viên kế cận có đủ phẩm chất và năng lực. Hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng giảng viên. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng đội ngũ giảng viên quân đội vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

4.1. Định hướng phát triển đến năm 2030

Định hướng phát triển đội ngũ giảng viên quân đội đến năm 2030 đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng. Cần đạt tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ tiến sĩ đạt chuẩn quốc gia. Xây dựng đội ngũ giảng viên đầu ngành trong các lĩnh vực khoa học quân sự. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo vào giáo dục đào tạo. Nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho giảng viên. Đẩy mạnh hợp tác đào tạo với các nước có nền giáo dục quân sự tiên tiến. Hoàn thiện hệ thống đánh giá chất lượng giảng viên theo tiêu chuẩn quốc tế.

4.2. Ứng dụng trong thực tiễn xây dựng quân đội

Kết quả nghiên cứu về chất lượng đội ngũ giảng viên có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng quân đội. Nâng cao chất lượng giảng viên góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ sĩ quan có đủ phẩm chất năng lực. Đội ngũ sĩ quan giỏi sẽ xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Chất lượng giáo dục đào tạo quân sự quốc phòng nâng cao đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Kinh nghiệm từ nghiên cứu có thể áp dụng cho hệ thống nhà trường quân đội. Đây là cơ sở khoa học để Bộ Quốc phòng hoạch định chính sách phát triển đội ngũ giảng viên bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện trực thuộc bộ quốc phòng quân đội nhân dân việt nam giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giảng viên ở các học viện, trường đại học ngoài quân đội 1. Về xây dựng, quản lý nguồn nhân lực giảng viên ở Trung Quốc Quan Vân Phi (2009), “Nghiên cứu mô hình quản lý nguồn nhân lực giảng viên đại học” [106].

Cuốn sách đã bàn về cơ chế quản lý ĐNGV, trong đó nhấn mạnh việc một số trường đại học ở Trung Quốc chỉ tuyển dụng giảng viên vào mà chưa có cơ chế bãi nhiệm, vẫn tồn tại hiện tượng “họ hàng”, tuyển dụng “lấy thân tín làm trọng”; công tác bồi dưỡng giảng viên còn thiếu tính mũi nhọn và tính cấp độ,. Tác giả còn nhấn mạnh trước đây, dưới thể chế kế hoạch hóa, việc quản lý ĐNGV ở các trường đại học Trung Quốc đều lấy công việc làm trung tâm, xem nhẹ yếu tố con người “nhìn việc mà không nhìn thấy người”, coi nhẹ khả năng con người. Mô hình quản lý này đã không phát huy được tính tích cực, sáng tạo của giảng viên, vì thế phải đổi mới tư duy từ quan niệm quản lý nhân lực giảng viên “truyền thống” sang quản lý “hiện đại”, trong đó nhiệm vụ đầu tiên để thực hiện tư tưởng “lấy con người làm trung tâm” phải coi giảng viên trong các trường đại học là chủ thể, bởi chính thái độ và sự nhiệt tình của giảng viên có vai trò quan trọng, quyết định đến sự phát triển của trường đại học. Hầu Kiến Quốc (2010),“Nghiên cứu về tăng cường xây dựng đội ngũ giảng viên các trường đại học ở Hà Bắc”, Tạp chí Đại học Khoa học kỹ thuật Hà Bắc Trung Quốc [120].

Dựa trên kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây, Trung Quốc thực hiện nhiều chương trình đào tạo để xây dựng ĐNGV ở các trường đại học như: “Chương trình nhân tài sáng tạo trình độ cao”, “Giải thưởng giảng viên trẻ”, “Kế hoạch bồi dưỡng giảng viên cốt cán”,. Tuy nhiên, tác giả cho rằng cơ cấu ĐNGV ở các trường đại học Trung Quốc hiện nay, nhất là ở tỉnh Hà Bắc chưa hợp lý, thiếu hụt những giảng viên có trình độ cao, giảng viên mũi nhọn, giảng viên cốt cán về mặt học thuật,. Vì vậy, để xây dựng ĐNGV cần coi 7 trọng giảng viên cốt cán (những người có học vị cao, có trình độ, năng lực chuyên môn trên các phương diện giảng dạy và NCKH); tăng cường thiết kế chương trình đào tạo chuyên ngành, nghiên cứu các quy luật giảng dạy; có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng giảng viên nhằm nâng cao năng lực của giảng viên, tăng cường tinh thần trách nhiệm trong thực hiện sứ mệnh của giảng viên. Mặt khác, cần tạo môi trường làm việc thuận lợi, xây dựng không khí dân chủ, kích thích khả năng sáng tạo của mỗi giảng viên và trả lương, phụ cấp phù hợp.

Trên cơ sở phân tích số liệu của Bộ Giáo dục Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 2008 có khoảng 5,8 triệu người đi học tập nước ngoài (có cả giảng viên), trong số hơn 4,3 triệu người tốt nghiệp, có khoảng 3,6 triệu người về nước và khoảng 700.000 người ở lại, vấn đề trên đã khiến Trung Quốc lo ngại về tình trạng “chảy máu nhân tài”. Theo tác giả, để cải thiện vấn đề này Trung Quốc cần tiếp tục thiết lập các hệ thống giáo dục đại học chất lượng cao, căn cứ vào chiến lược phát triển để xây dựng các tiêu chuẩn, phân tích dự báo và đánh giá ĐNGV, đồng thời áp dụng những chính sách ưu đãi trong xây dựng ĐNGV bậc cao, môi trường làm việc, nghiên cứu học tập tốt hơn nhằm thu hút những giảng viên giỏi trong và ngoài nước để trường đại học là nơi hội tụ những nhân tài giáo dục, có như vậy mới nâng cao chất lượng ĐNGV đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân tài. Về chất lượng, đánh giá nghề nghiệp giảng viên ở Lào Kouyang Sisom Blong (2016), “Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở các Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay” [83]. Tác giả Luận án đã quan niệm: “Chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy được thể hiện trước hết ở số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có mức độ phù hợp, cách tổ chức, sắp xếp các thành phần trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy một cách cân đối, hài hòa, có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, các thế hệ, giới tính, dân tộc cán bộ nghiên cứu, giảng dạy để tạo nên sức mạnh tổng hợp cao nhất thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong mọi điều kiện” [83, tr.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất 8 lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, luận án đã xây dựng 04 giải pháp chủ yếu, trong đó tác giả nhấn mạnh 02 giải pháp quan trọng: (1) Đổi mới các khâu trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, nhất là khâu tự đào tạo, mối quan hệ và sự hỗ trợ giúp đỡ của các ban ngành, vai trò của tỉnh ủy trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy. (2) Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ở Việt Nam và một số nước khác. Kham Phounvong Nouanphet (2017), “Đánh giá giảng viên đại học nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” [84]. Tác giả Luận án cho rằng, vấn đề đánh giá giảng viên các trường đại học ở Lào hiện nay là yêu cầu khách quan nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.

Việc đánh giá giảng viên phải hướng đến chuẩn đánh giá của các nước trong khu vực và thế giới đồng thời phải phù hợp với thực tiễn quản lý phát triển ĐNGV. Cũng theo tác giả luận án: “Đánh giá giảng viên phải góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV; định hướng và làm động lực cho ĐNGV tự giác hoàn thiện mình theo chuẩn. Hoạt động của giảng viên trong trường đại học cũng như bất kỳ một công việc chuyên môn nào khác, chịu áp lực của hai loại lợi ích: lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể” [84, tr. Luận án đã đề xuất một số giải pháp về nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên về đánh giá giảng viên; chỉ đạo hoàn thiện quy trình, công cụ đánh giá giảng viên; huy động các lực lượng tham gia đánh giá giảng viên; kiểm tra, đánh giá các hoạt động đánh giá giảng viên; đảm bảo các điều kiện về môi trường và chế độ chính sách cho hoạt động đánh giá giảng viên.

Bài viết nhấn mạnh: “Năng lực nghề nghiệp được coi là sự tích hợp giữa ba thành tố kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để hoàn thành được những công việc và nhiệm vụ trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp” [27, tr. Phát triển năng lực nghề nghiệp là một nhiệm vụ cơ bản để nâng cao chất lượng ĐNGV của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào. Tác giả đã phân tích và đánh giá các thành phần cơ bản khung năng lực nghề nghiệp của giảng viên đó là: 9 “Phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn nghề sư phạm, năng lực dạy học và giáo dục của nghề nghiệp sư phạm; năng lực phát triển chương trình, tài liệu đào tạo ngành sư phạm, năng lực NCKH, năng lực quan hệ với các cơ sở giáo dục, năng lực phát triển nghề nghiệp và năng lực bổ trợ,. Về phát triển năng lực của giảng viên ở một số nước Mimin Emi Suhaemi, Nur Aedi (2015),“A management strategy for the Improvement of private universities lecturers Professional Competencies”, International Education Studies (Chiến lược quản lý để nâng cao năng lực chuyên môn của giảng viên trường đại học tư thục) [161].

Bài viết đã đánh giá, giảng viên là các nhà giáo dục chuyên nghiệp, các nhà khoa học được kỳ vọng ở năng lực sư phạm, cá nhân, xã hội và khả năng phát triển nghề nghiệp. Do đó, các tác giả nhấn mạnh chiến lược phát triển giảng viên nhất là “các kế hoạch được thực hiện bởi các tổ chức, cơ sở và các khoa, bộ môn; lập kế hoạch chương trình học thực hiện thường xuyên; chuẩn bị quỹ giáo dục để tạo động lực thúc đẩy giảng viên; quy định các quy tắc mà các giảng viên sẽ tiến hành giảng dạy và học tập trước hết nên tiếp tục việc học của họ; thành lập một bộ phận đảm bảo chất lượng đóng vai trò là người kiểm soát và đánh giá chất lượng; thực hiện các chính sách phù hợp để tạo cơ hội cho giảng viên nâng cao trình độ” [161, tr.Navarro và cộng sự (2016), “Developing teachers competences for designing Inclusive learning experiences”, Journal of Educational Technology & Society (Phát triển năng lực của giáo viên về thiết kế trải nghiệm học tập toàn diện) [164]. Theo các tác giả, giáo dục toàn diện là quá trình cung cấp cho tất cả người học cơ hội giáo dục bình đẳng, là thách thức lớn đối với hệ thống giáo dục trên toàn thế giới, để giải quyết vấn đề này một trong những biện pháp phát triển năng lực của giáo viên cần phải tính đến các yếu tố như: Thiết kế phổ cập cho việc học tập (Universal design learning); tài nguyên giáo dục mở (Open educational resources); khung năng lực dành cho giáo viên (Competency framework inclusive teachers) và chương trình thiết kế, triển khai đánh giá (Professional teacher development program). Với những yếu tố trên, kết quả đánh giá sẽ phát triển năng lực của giáo viên với việc thiết kế trải nghiệm học tập toàn diện của người học.

10 Singapore Ministry of Education (2017), “Educational Performance Management System - EPMS” (Hệ thống quản lý hiệu xuất giáo dục) [163]. Theo bài viết, Bộ Giáo dục Singapore đã xây dựng bộ chuẩn dựa trên khung năng lực của viên chức giáo dục và hệ thống quản lý hiệu xuất giáo dục EPMS. Hệ thống này chỉ rõ những yêu cầu đối với giảng viên về nhóm năng lực (competency cluster) kiến thức, kỹ năng, năng lực, mối liên hệ giữa hành vi, kết quả thực hiện mà giảng viên cần phải đạt được. Theo đó, chuẩn năng lực của giảng viên Singapore được phân thành 4 nhóm chính (Nuôi dưỡng kiến thức, thắp sáng trái tim, khối óc, biết mình biết người, biết làm việc cùng người khác).

Các phẩm chất này đảm bảo cho quá trình giáo dục thực hiện một cách bền vững và thành công. Thomas Buabeng Assan (2017), “Perceptions of lecturers on quality assurance in higher education teaching and learning process”, International Journal of Educational Sciences (Nhận thức của giảng viên về đảm bảo chất lượng trong quá trình giảng dạy và học đại học) [166].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ