Luận án TS Nguyễn Văn Dương - Chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ QK7

Dưới đây là các meta tags cho bài viết "Chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh ủy QK7": { "ai_description": "Xây dựng chất lượng lãnh đạo quan

Trường đại học

Học viện Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

230
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ

Chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ của các tỉnh ủy, thành ủy là nội dung trọng tâm trong công tác quốc phòng, an ninh ở địa phương. Khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố bao gồm hệ thống các công trình phòng thủ, lực lượng vũ trang, tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật và thế trận quốc phòng toàn dân. Vai trò lãnh đạo của tỉnh ủy, thành ủy quyết định trực tiếp đến hiệu quả xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Nghiên cứu trên địa bàn Quân khu 7 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Quân khu 7 gồm các tỉnh, thành phố phía Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh. Chất lượng lãnh đạo thể hiện ở năng lực ra quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát. Tỉnh ủy, thành ủy phải quán triệt sâu sắc đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng. Đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia xây dựng khu vực phòng thủ.

1.1. Khái niệm chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ

Chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ là tổng hợp các thuộc tính, phẩm chất của cấp ủy đảng trong việc hoạch định, tổ chức thực hiện đường lối quốc phòng. Chất lượng lãnh đạo bao gồm nhiều chiều cạnh. Đó là năng lực phân tích, đánh giá tình hình và dự báo chiến lược. Đó là khả năng xây dựng nghị quyết, chỉ thị sát thực tiễn. Chất lượng còn thể hiện ở phương thức lãnh đạo khoa học, hiệu quả. Tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạo thông qua hệ thống tổ chức đảng từ tỉnh đến cơ sở. Nội dung lãnh đạo涵盖khía cạnh quy hoạch, bố trí lực lượng và xây dựng thế trận. Chất lượng lãnh đạo cao khi khu vực phòng thủ được xây dựng toàn diện, vững chắc.

1.2. Vị trí vai trò của tỉnh ủy thành ủy trong xây dựng khu vực phòng thủ

Tỉnh ủy, thành ủy giữ vị trí lãnh đạo toàn diện công tác quốc phòng, an ninh ở địa phương. Theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Tỉnh ủy, thành ủy ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng khu vực phòng thủ. Nghị quyết xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn. Ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy tổ chức chỉ đạo thực hiện thông qua các cơ quan tham mưu. Đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố là cơ quan tham mưu trực tiếp. Mối quan hệ giữa tỉnh ủy, thành ủy với chính quyền, đoàn thể tạo sức mạnh tổng hợp. Vai trò lãnh đạo quyết định chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ.

II. Phân tích thực trạng chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ

Thực trạng chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 7 đạt nhiều kết quả tích cực. Các tỉnh ủy, thành ủy đã quán triệt nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị của Đảng về quốc phòng. Hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo ngày càng hoàn thiện và đồng bộ. Công tác quy hoạch, xây dựng khu vực phòng thủ được triển khai có trọng tâm, trọng điểm. Lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được củng cố về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Nhận thức của một số cấp ủy viên chưa đầy đủ về vị trí chiến lược của khu vực phòng thủ. Phương thức lãnh đạo có lúc chưa linh hoạt, thiếu sáng tạo. Nguồn lực đầu tư cho quốc phòng chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết chưa thường xuyên. Một số địa phương chưa gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng.

2.1. Ưu điểm trong chất lượng lãnh đạo của các tỉnh ủy thành ủy

Các tỉnh ủy, thành ủy trên địa bàn Quân khu 7 đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo. Nghị quyết chuyên đề về xây dựng khu vực phòng thủ được ban hành kịp thời, sát thực tiễn. Công tác quán triệt nghị quyết đạt hiệu quả cao trong toàn đảng bộ. Hệ thống tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang được củng cố vững mạnh. Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành ngày càng chặt chẽ. Nguồn lực cho quốc phòng được ưu tiên bố trí hợp lý. Kết quả xây dựng khu vực phòng thủ góp phần giữ vững ổn định chính trị. An ninh trật tự trên địa bàn được bảo đảm, phục vụ phát triển kinh tế.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong chất lượng lãnh đạo hiện nay

Bên cạnh kết quả đạt được, chất lượng lãnh đạo còn một số hạn chế. Nhận thức của một số cán bộ, đảng viên về quốc phòng chưa sâu sắc. Phương thức lãnh đạo có phần máy móc, chưa thích ứng kịp thời. Nguồn nhân lực cho công tác quốc phòng địa phương còn thiếu về số lượng. Chất lượng đội ngũ cán bộ tham mưu chưa đồng đều giữa các địa phương. Nguyên nhân khách quan do áp lực phát triển kinh tế chiếm nhiều nguồn lực. Nguyên nhân chủ quan do một số cấp ủy chưa coi trọng đúng mức. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ chưa thường xuyên. Cơ chế phối hợp giữa các lực lượng đôi khi còn chồng chéo.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ

Nâng cao chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần tăng cường giáo dục, quán triệt đường lối quốc phòng của Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc vị trí chiến lược của khu vực phòng thủ. Nghị quyết chuyên đề phải được xây dựng khoa học, sát thực tiễn từng địa phương. Phương thức lãnh đạo cần đổi mới theo hướng linh hoạt, sáng tạo hơn. Ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy cần tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên. Nguồn lực cho quốc phòng phải được bố trí hợp lý, hiệu quả. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quốc phòng cần được coi trọng. Mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng phải được tăng cường. Ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý, điều hành quốc phòng là cần thiết. Xây dựng khu vực phòng thủ gắn với phát triển kinh tế, xã hội bền vững.

3.1. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng

Nâng cao năng lực lãnh đạo bắt đầu từ công tác cán bộ. Cần tuyển chọn, đào tạo đội ngũ cấp ủy viên có trình độ quốc phòng vững vàng. Chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh phải được đổi mới nội dung. Tổ chức học tập kinh nghiệm từ các địa phương có thành tích tốt. Tăng cường đối thoại, trao đổi giữa cấp ủy với cơ quan quân sự địa phương. Nâng cao chất lượng xây dựng nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng. Nghị quyết phải có mục tiêu cụ thể, khả thi và có cơ chế kiểm tra. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng lãnh đạo khoa học.

3.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp và bố trí nguồn lực

Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong xây dựng khu vực phòng thủ. Ban hành quy chế phối hợp rõ ràng giữa tỉnh ủy, thành ủy với chính quyền và đoàn thể. Tăng cường vai trò tham mưu của đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố. Bố trí nguồn lực tài chính cho quốc phòng theo tỷ lệ hợp lý. Huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, nhân dân tham gia xây dựng khu vực phòng thủ. Đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị, công trình phòng thủ. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành quốc phòng. Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng thủ dân sự, cứu hộ cứu nạn.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa các quan điểm của Đảng về quốc phòng. Nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá chất lượng lãnh đạo. Luận án phân tích mối quan hệ giữa tỉnh ủy, thành ủy với các lực lượng trong xây dựng khu vực phòng thủ. Về mặt thực tiễn, đề tài đánh giá khách quan thực trạng chất lượng lãnh đạo. Chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của từng vấn đề cụ thể. Từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi, sát thực tiễn. Các giải pháp được xây dựng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các tỉnh, thành phố trong cả nước. Luận án đóng góp vào kho tàng lý luận về xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước. Đồng thời phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quốc phòng địa phương.

4.1. Giá trị lý luận của đề tài nghiên cứu

Đề tài đóng góp quan trọng vào hệ thống lý luận về lãnh đạo quốc phòng. Luận án làm sáng tỏ bản chất, nội dung chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ. Hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá chất lượng lãnh đạo một cách khoa học. Phân tích sâu mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và quốc phòng. Nghiên cứu rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn Quân khu 7. Kết quả lý luận phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quốc phòng. Đề tài mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về lãnh đạo quốc phòng ở địa phương.

4.2. Giá trị thực tiễn và khả năng ứng dụng

Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. Hệ thống giải pháp được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn sinh động. Các tỉnh ủy, thành ủy có thể tham khảo để nâng cao chất lượng lãnh đạo. Cơ quan tham mưu quốc phòng sử dụng kết quả để tham mưu cho cấp ủy. Kết quả phục vụ xây dựng chương trình đào tạo cán bộ quốc phòng địa phương. Nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng khu vực phòng thủ toàn quốc. Đề tài tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách quốc phòng ở địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ chất lượng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ của các tỉnh ủy thành ủy trên địa bàn quân khu 7 hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về công tác quân sự, quốc phòng, phòng thủ dân sự và khu vực phòng thủ 1.

Các công trình nghiên cứu về công tác quân sự, quốc phòng, phòng thủ dân sự A. An-tu-nin (1980), Phòng thủ dân sự [1]. Tác giả cuốn sách đã đề cập đến một hoạt động hết sức quan trọng của công tác QS, QP địa phương, đó là hoạt động phòng thủ dân sự, khẳng định: Phòng thủ dân sự là sự nghiệp của toàn dân. Việc chuẩn bị cho nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phòng thủ dân sự bao gồm một hệ thống các biện pháp đồng bộ, trong đó, biện pháp quan trọng nhất là huấn luyện, luyện tập, xây dựng lực lượng, trang bị, phương tiện, các công trình phòng thủ dân sự và hướng dẫn cho nhân dân các biện pháp phòng tránh, cấp cứu cho nhau và tự cấp cứu.

Bảo vệ nhân dân bằng các công trình được xây dựng từ trước là hiệu quả nhất, sơ tán, phân tán nhân dân là biện pháp tích cực, quan trọng, bảo đảm cho mỗi người dân luôn có tâm thế chủ động, sẵn sàng hành động đúng đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ và điều kiện đặc biệt của chiến tranh.Nie-kra-xốp (1987), Công tác tổ chức giáo dục thể thao quốc phòng trong trường học [122]. Cuốn sách đã tổng kết quá trình hoạt động của Hội tình nguyện giúp đỡ hải, lục, không quân toàn Liên Xô (gọi tắt là hội Đô- xáp Liên Xô) trong các trường học với mục đích giáo dục truyền thống yêu nước, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bồi dưỡng, huấn luyện những kiến thức, kỹ năng QS, QP cần thiết cho học sinh. Tác giả khẳng định mỗi người Xô-viết yêu nước, bất kỳ ở cương vị nào đều cần thiết phải được chuẩn bị về mặt quốc phòng, việc huấn luyện cho học sinh những kiến thức cơ bản về quân sự sẽ góp phần củng cố khả năng phòng thủ đất nước.Vôn-cô-gô-nốp (1998), Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội [159]. Tác giả cuốn sách đã khẳng định tổ chức xây dựng lực lượng dân quân để tiến hành CTND, bảo vệ Tổ quốc XHCN là cần thiết, xuất phát từ luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính chất chính nghĩa và vai trò của quần chúng nhân dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN, vấn đề này xuất phát từ kinh nghiệm lịch sử và truyền thống của dân tộc Nga.

Về tổ chức xây dựng lực lượng, công trình này đã nêu rõ ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh cùng với việc động viên quân đội, Đảng và Chính phủ Liên Xô đã thành lập các sư đoàn dân quân. Các tác giả cuốn sách đã đề cập một cách toàn diện về giáo dục quân sự ở Nga bao gồm: mục đích, ý nghĩa, đối tượng, nội dung, phương pháp tiến hành. Về mục đích giáo dục quốc phòng ở Nga được các tác giả chỉ rõ là nhằm bồi dưỡng tinh thần yêu nước và tinh thần sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập cho mọi người dân, đồng thời ở Nga quan niệm quốc phòng được hiểu theo nghĩa rộng, đó không chỉ là lĩnh vực của quân đội và chính quyền nhà nước mà có liên quan đến mọi công dân và mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước. Vì thế, hệ thống và nội dung giáo dục quốc phòng ở Nga được tổ chức chặt chẽ, toàn diện, sâu sắc, được bao quát trên nhiều lĩnh vực, tập trung vào các vấn đề như chiến lược quốc phòng, chính sách quốc phòng, kinh tế quân sự, sự phát triển công nghiệp quốc phòng… Lý Xương Giang, Tiểu Kính Dân, Vương Bảo Tôn (1999), Chiến lược phát triển giáo dục quốc phòng ở Trung Quốc [96].

Ngoài việc đề cập các nội dung chủ yếu như quan niệm về giáo dục quốc phòng, mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục quốc phòng… nhóm tác giả nhấn mạnh yêu cầu phải giáo dục quốc phòng cho toàn dân, coi trọng giáo dục ý thức quốc phòng đến mọi người dân, xây dựng củng cố thế trận lòng dân là cơ sở, nền tảng cho xây dựng thế trận quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế koạch phát triển KT - XH; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo, nâng cao 12 đời sống cho nhân dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu, nghèo giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng miền. Các tác giả xác định đây là giải pháp hữu hiệu để tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Học viện Khoa học quân sự Trung Quốc (2013), Lý luận chiến lược quân sự Trung Quốc [99]. Đây là một trong những tài liệu quan trọng trong hệ thống lý luận quân sự quốc gia của Trung Quốc, nội dung cuốn sách tập trung tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận chiến lược quân sự hiện đại mang màu sắc Trung Quốc, gồm: lý luận cơ bản về chiến lược, dự báo hình thái chiến lược và xây dựng kế hoạch chiến lược trong sử dụng lực lượng quân sự.

Cuốn sách gồm có 12 chương, 412 trang, đặc biệt trong Chương 5: Làm phong phú và phát triển tư tưởng chiến lược phòng ngự tích cực của Trung Quốc thực hiện tư tưởng: phòng ngự từ xa: “về nội dung chiến lược quân sự đòi hỏi phải xóa bỏ tư duy chiến lược truyền thống đơn thuần, chỉ phòng thủ biên giới lãnh thổ sang phòng ngự từ xa” [99, tr. Trong cuốn sách này, ở Chương 12 xây dựng lực lượng quân sự hiện đại đặc sắc Trung Quốc có bàn sâu về thúc đẩy xây dựng lực lượng dự bị động viên và lực lượng chi viện chiến lược để góp phần hỗ trợ ứng phó tình huống khẩn cấp trong thời bình. Sỉ-phon-keo-sa May (2013), Xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào [119], tác giả luận án đã luận giải làm rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của xây dựng nền QPTD đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào; làm rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung và các quan điểm, chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về xây dựng tiềm lực quốc phòng trong tình hình mới. Theo tác giả, xây dựng tiềm lực QPTD là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị.

Vì vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc xây dựng này, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền; phát huy vai trò làm tham mưu, tổ chức thực hiện của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, nòng cốt là CQQS địa phương đối với xây dựng tiềm lực quốc phòng. Các công trình nghiên cứu về khu vực phòng thủ Sống-ca-bun-khun (2006), “Một số vấn đề xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân của Lào trong thời kỳ mới” [136]. Tác giả bài báo đã khẳng định những điều kiện thuận lợi và khó khăn của nước Lào trong thời kỳ mới, nhất là các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Qúa trình xây dựng thế trận QPTD của Lào, tác giả đã nêu lên một số kinh nghiệm như: Vấn đề thực hiện xây dựng KVPT tỉnh ở một số địa bàn chiến lược; thế trận QPTD của KVPT địa phương bằng sự liên kết, đan xen chặt chẽ giữa tiềm lực, lực lượng và thế trận; xây dựng thế trận vững mạnh, vấn đề cốt lõi là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; có nhiều chính sách khuyến khích đưa người dân ra định canh, định cư sinh sống trên những địa bàn chiến lược về quốc phòng; xây dựng các công trình phòng thủ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ KVPT của địa phương.

Phôn-thong Phăn-cha-lơn-phôn (2011), Nghiên cứu xây dựng và hoạt động của bộ đội địa phương trong khu vực phòng thủ tỉnh ở Bắc Lào [126]. Tác giả luận án nghiên cứu luận giải rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của bộ đội địa phương trong KVPT tỉnh ở Bắc Lào, trên cơ sở đó xác định yêu cầu, nội dung, giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng và hoạt động của bộ đội địa phương tham gia xây dựng KVPT tỉnh, góp phần củng cố nhiệm vụ QP, AN ở Lào. Khăm-phun Lươn-sôm-vẳng (2016), “Xây dựng tiềm lực quân sự khu vực phòng thủ các tỉnh ở địa bàn Nam Lào trong tình hình mới” [116]. Tác giả bài báo nhận định, trong giai đoạn hiện nay, đất nước Lào có nhiều thuận lợi, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức nhất là âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Lào.

Vì vậy, xây dựng nền QPTD vững mạnh; xây dựng KVPT ở các tỉnh vững chắc; chú trọng xây dựng và phát triển LLVT nhân dân Lào nói chung, lực lượng DQTV nói riêng rộng khắp, vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở đảm bảo giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào là yếu tố quan trọng hàng đầu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào trong giai đoạn hiện nay. 14 Panhothon Keo-visit (2019), “Xây dựng tiềm lực vận tải trong khu kinh tế - quốc phòng ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” [107]. Tác giả bài báo nhấn mạnh, quá trình xây dựng tiềm lực vận tải khu kinh tế - quốc phòng gồm nhiều công việc, liên quan tới nhiều cấp, nhiều ngành trong và ngoài quân đội với nhiều lực lượng tham gia, nhiều khó khăn phức tạp, kinh phí đầu tư lớn, thời gian dài. Để thực hiện tốt vấn đề này, đòi hỏi phải phát huy vai trò chủ trì của đoàn kinh tế - quốc phòng; giải quyết tốt các vấn đề của đoàn kinh tế - quốc phòng trong quá trình tổ chức thực hiện các dự án các cấp, các ngành, các địa phương cũng có trách nhiệm tham gia đầy đủ và tích cực, theo đó cần tiến hành một số nội dung như: xây dựng lực lượng vận tải; xây dựng lực lượng sửa chữa máy móc, sản xuất phượng tiện vận tải thô sơ của hậu cần nhân dân cụm bản; xây dựng mạng đường giao thông vận tải.

Các công trình nghiên cứu về Đảng Cộng sản lãnh đạo công tác quân sự, quốc phòng và khu vực phòng thủ 1. Các công trình nghiên cứu về Đảng Cộng sản lãnh đạo công tác quân sự, quốc phòng A.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ