MỞ ĐẦU VỀ NƯỚC Nước cỏ củng thức hoá học H;Ö, trong phân tử nước có 2 nguyễn tử hidrd và | nguyễn tử oxy, Các phan tử nước thường không tốn tại riêng ré mà tạo thành từng nhỏm phan tử. Nước không có mau, trong suốt, cho ánh sáng và sóng dải di qua, như vậy quá trình tong hợp quang học có thể thực hiện được ở độ sầu trong lớp nước. Nước có khả năng hoà tan một số chất rắn, nỏ là dung dịch điện li với các anion, cation và các chất không điện fi có cực có thể hoà tan trong nước với nắng độ caw. LSU PHAN BO LƯỢNG NƯỚC TREN THẾ GIỚI Nước trên hành tinh của chúng ta được phát sinh từ các nguồn : -Ti bên trong lòng đất : là nguồn cung cấp chủ yếu; -Tử các thiên thạch đưa lại; -Từ lớp trên của khi quyển trái đất.
Nước thường được phân chia ra thành nước mặn và nước ngọt, bao phủ đến 3/4 bể mat trái đất, trong đó ; -O7% nước mặn; -3% nước ngọt : cung cấp cho sự sống. Trong 3% nước ngot ở trên thì hơn 2% tổn tại ở dạng bang ở các cực, chỉ 0.7% từ các dang sông, suối, ao hỗ.Sargent, tổng lượng nước trên thế giới được phân bố như sau : -Biển và dai đương : 1.000 km” -Nước ngắm : 60.000 km’ -Hỗ nước ngọt : 125.000 km” -Hỗ nước man : 105.000 km’ -Khi ẩm trong đất : 75.000 km” -Hơi nước trong khí quyển : 14.000 km’ -Nước sông - 1.200 km” -Tuyết trên lục địa : 250 km’ 1.320,450 km” Như vậy, chỉ khoảng 215.000 km” tức gắn 1/7000 tổng lượng nước có vai trò quan trọng là bảo tổn sư sống trên hành tỉnh. Lisvhe án 134 vig iat yo Sve Nuya Thị Van rink I Pairs id chất loging nước sông Sai Gon GVHD thầy Noquvde Mein Bink Ponude Jae Trang 39 nưưc ngọt, chi khoảng 0,7 % là nước ở dụng sông, suối, ao hỗ nude mãn: Hình I.I:Lưựng nước trên thé giới IIÝ NGHĨA VA TAM QUAN TRONG CUA NƯỚC -Nước có vai trò quan trong trong đời sống của sinh vật , không thé thiếu được trong các cơ thể sống, thường nước chiếm 60% đến 90% cơ thể sinh vật, có khi đến 98% ở một số cây mong nước như cây nha đam ., ruột khoang như sửa. -Nước có trong toàn bộ các bộ phận của cơ thể sinh vật với tỉ lệ khác nhau : mô xương ít nước hơn mô cơ, mô máu chứa nhiều nước nhất.
-Nước là nguyên liệu cho cây quang hợp để tạo ra chất hữu ca, -Nước là phương tiện vận chuyển chất hữu co và võ cơ trong cây, vận chuyển miu và chất định dưỡng ở động vật. -Nước tham gia vào các quá trình trao đổi năng lượng và diéu hoà nhiệt độ co thể. -Nước còn giữ vai trò tích cực trong việc phát tần nòi giống của các sinh vật. -Nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
*Vai trò của nước đối với cơ thể con người : -Nước được hấp thu nhằm bù đấp lượng nước thường xuyên thoát ra qua da, phổi, thận. -Nước cung cấp các chất cẩn thiết cho sự phát triển của cơ thể : iốt, flour, mangan, kẽm, sất, các sinh tố. -Nước giúp thải các chất thừa, độc hại cho cơ thể. -Nước giúp con người chống lại sự nóng bức, ở những nơi có nhiều sông, sudi, ao, hồ khí hậu thường điều hoa và mát mẻ.
Mất 10%-20% lượng nước trong cứ thể con người có thể chết. Lia = aan PaaS Teo Lact ám Lời big hip SVT+H Ngé Thị Van mảnh “ Bank eytelt clit losers thtDÔYgT "hi Ha] Saki Caan OVHD, thay Nguyên Van Tỉnh Chương II HOÁ HỌC NƯỚC SÔNG Việt Nam có mạng lưới sông ngòi khá day đặc va phân hố tương đối đều trên toàn lãnh thé. Nếu tính riêng sông có độ dài trên 10km đã có 2500 con sông với tổng chiều dài trên 52. Doc ba hiển trung bình 20km có một cửa sông và mật độ lưới sông thay đổi từ 0,5-2km/km”.
DAC ĐIỂM CHUNG Thanh phan hoá học nước sông được quyết định hởi đặc tính vốn có của con sông ấy. Đặc tính ấy bao gồm các yếu tố sau: -Nguẫn nước cung cấp cho sông; -Cấu tao địa chất của lưu vực sông ; -Khi tượng, thuỷ văn của lưu vực sũng ; -Khi hậu của khu vực sông; -Tốc độ dòng chảy của sông. Ngoài ra thành phan hoá học của nước sông còn được quyết định một phan bởi thái đô của con người trong quá trình sử dụng nước sông. Độ khoáng của nước sông thường nhỏ hơn các loại nguồn nước khác vì nước sũng tiếp xúc với các ting nham thạch trong thời gian rất ngắn do nước sông luân chuyển động, khả năng hoà tan các chất thấn.
Ở từng khu vực nhất định thì thành phần hoá học nước sông tương đổi dang déu do nước liên tục chảy nên khả năng trộn lẫn các chất rất cao. Còn sự biến đổi thành phan hoá học của cả con sống thì rất phức tạp vì sông chảy qua rất nhiều khu vực mà ở đó cả thổ nhưỡng, khí tượng thuỷ văn, khí hậu .đểu rất khác nhau. Cũng như các nguồn nước khác, thành phan hoá học của nước sông cũng bao gốm các ion chủ yếu nhất, các albumin sinh vật, các chất khí hoà tan và các chất hữu cơ. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu về nguồn gốc, hàm lượng và các đặc tinh biến hoá của thành phần hoá học nước sỗng.ĐỘNG THÁI CUA CÁC ION CHỦ YẾU NHẤT H.Sự phân loại sông theo độ khoáng hoa Dựa vào độ khoáng hoá của nước sông người ta chia sông thành 4 cấp : -Sông cấp I có độ khoáng hoá rấtthấp =: <200mg/] -Séng cấp II có độ khoáng hoá trung hình : 200-500me/1 -Séng cap IH có độ khoáng hoá cao : S00- I000mgil -Sñng cấp IV có độ khoáng hoá rất cao >l000mgil Hẳu hết nước các con sông trẻn trái đất déu là sông cấp 1 hoặc cấp II, rất ít song cấp HI hoặc cấp IV.
L tuần văn hết reg hye SVT+I Nae Thị Văn Anh 3 Banh, ye chết | xa. hater! sảng Sai Goan GVHD, thay Nguyễn Van Bink H.Các nguén cung cấp nước cho sông Có hai nguẫn cung cấp nứớc cho sông là ngudn nước trên mặt đất và nước ngắm.Nguấn nước trên mặt đất a) Nước mưa Trừ những cơn mưa có tính chất đặc biệt, còn nói chung nước mưa là nước có độ khoáng hoá rất thấp. Do vậy nguồn nước mưa cung cấp cho sông thường làm cho độ khoáng hoá của nước sông giảm đi. Nhưng cũng phải chú ý là nước mưa rơi xuống mặt đất thì chúng tụ tập lại tạo thành dòng chảy cung cấp nước cho sông.
Như vậy trong quá trình đó nước mưa đã hod tan các chất trong đất nên chúng ta phải chú ý đến đặc tinh khí hau của khu vực trước khi mưa. Khu vực có mưa sẽ cung cấp nước cho sông mà trước đó dang là mùa hạn hán hay lũ lụt thì khả năng cung cấp các chất cho sông là rất khác nhau, h Nước tuyết và bằng Mùa đông tuyết rơi xuống phủ trên mat đất thành các tang lớp khác nhau. Mùa xuân, tuyết tan ra, Loại nước này có độ khoáng hoá cũng rất thấp.Mặt khác khi nước tuyết chảy trên mặt đất thì chúng chỉ hoà tan rất ít các chất có trên mat đất vì nhiệt độ còn rất thấp. Như vậy các nguồn nước này chảy vào sdng thường làm cho độ khoáng hod của nước sông giảm đi.
Nước tuyết cung cấp cho sông các ion chủ yếu, thường là Ca”*, Mg’*, HCO, vì các ion này thường có trên mat đất.Nước ngắm Nước ngắm do tiếp xúc rất tốt và lau với các nham thạch, đất nên thường có độ khoáng hoá cao. Nước ngẫm có ở trong các tẳng địa chất khác nhau và có thành phần hoá học khác nhau nên khi chảy ra sống cũng làm cho thành phan hoá học của nước sông thay đổi. a)Nước trong tầng đất bồi Loại nước này tụ tập trong ting đất hổi. Thường là nước sông trong mùa lũ lụt dang cao lên, bị giữ lại trong tang đất bồi, khi nước sông xuống thấp thi nước này thấm từ tang đất bồi bổ sung cho sông.
Độ khoáng hoá của loại đất này phụ thuộc vào tấn suất lũ, thời gian nước ngập và thành phan hoá học của tầng đất bồi. Thông thường thì nước trong ting đất bổi có độ khoáng hoá cao hơn nước trên mặt đất nhưng cũng có trường hợp ngược lại. khi nước mặt làm sụt lễ đất hoặc chảy trên ving nước vừa trải qua mùa khổ hạn thì chúng lại hoà tan nhiều chất trong đất, làm cho thành phan hoá học của nước mat thay đổi nhiều, độ khoáng hoá lại cao hon nước ngắm trong tầng đất bồi. Lain win tối ma hyip SVL Nad Thi Mãn xÀnh 4 Briere oped halt la sexy nước sông Si Gdn GVEID, thely Nguyễn Van Bink nn b) Nước trong ting ngắm Loại nước trong ting sâu thường có độ khoáng hoá rất cao.
Loại nước này thường là nguồn cung cấp nước cho sông vào mùa khô, khi nước sông xuống rất thấp. Từ sự phân tích các nguồn nước cung cấp cho sông chúng ta thấy thành phắn hoá học của nước sông thay đổi có tính chất mùa vụ và theo thời gian của mùa, vụ ấy. Khi nguồn nước mặt là nguồn chủ yếu cung cấp cho sông thì độ khoáng hoá của nước sông giảm đi và ngược lại khi nguồn nước cung cấp chủ yếu cho sông là nước ngắm thì độ khoáng hoá của nước sông lại tăng lên.Anh hưởng của khí hậu đến độ khoáng hoá của nước sông Khí hậu có thể ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước cung cấp cho sông. Khí hậu có thể gây ra hạn hán, lũ lụt, mưa gió.
tạo ra các khu vực khác nhau như nhiệt đới, ôn đới, hàn đới Tất cả những yếu tố đó làm cho lượng nước cung cấp cho sông thay đổi, thành phần hoá học của các nguồn nước cho sông thay đổi và do đó làm cho thành phần hoá học của nước sông cũng thay đổi. Như vậy mỗi con sông đều có động thái thuỷ hoá đặc thù và là nơi tổng hoà các điểu kiện hình thành thành phẩn hoá học cùng đặc tính biến hoá của những điều kiện này trong lưu vực của nó.Sự liên quan giữa độ khoáng hoá với các ion trong nước sông Đô khoáng hoá của nước sông thay đổi không những làm cho hàm lượng các ion thay đổi ma còn làm cho tỷ lệ hàm lượng của các ion cũng thay đổi. Nhìn chung, đối với các con sông có độ khoáng hoá trung bình và thấp, khi độ khoáng hoá tăng lên thì hàm lượng các ion cũng tăng lên tương ứng, đặc biệt ham lượng Cl và HCO, tăng rất nhanh.