MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nƣớc gắn liền với mọi hoạt động sống của con ngƣời. Con ngƣời, động thực vật sẽ không tồn tại đƣợc nếu thiếu nƣớc. Nƣớc chiếm khoảng 58-67% trọng lƣợng cơ thể ngƣời lớn và đối với trẻ em lên tới 70-75%, đồng thời nƣớc là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đƣờng cho các chất khoáng đi vào cơ thể.
Theo báo cáo hiện trạng môi trƣờng của trung tâm nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng thì nhu cầu về nƣớc trong cơ thể con ngƣời phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa và vận động, do vậy nhu cầu nƣớc của mỗi ngƣời là khác nhau: Trẻ bú mẹ cần từ 0,3 đến 1 lít nƣớc (sữa)/ngày. Trẻ từ 1-15 tuổi cần từ 1 đến 1,8 lít nƣớc/ngày. Ngƣời lớn cần từ 1,8 đến 2,5 lít nƣớc/ ngày. Và lƣợng nƣớc thu nạp hàng ngày đó có tới 50% là nƣớc uống, 40-45% là từ thức ăn và phần còn lại là do nƣớc chuyển hóa.
Khi đời sống xã hội tăng cao cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp thì nguồn nƣớc này vốn đã khan hiếm nay lại ngày càng thiếu trầm trọng hơn. Nguyên nhân của sự ô nhiễm này là do nhiều nguồn khác nhau, nhƣng trong đó nguồn ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt của con ngƣời cũng là một trong những tác nhân chính gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng nƣớc. Con ngƣời đang thực sự đối mặt với nguy cơ thiếu nƣớc trong tƣơng lai không xa và vẫn chƣa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Chí Viễn là một xã miền núi biên giới vùng II nằn ở phía Đông của huyện Trùng Khánh, cách trung tân huyện 12km và cách thành phố Cao Bằng 72km, có vị trí quan trọng cả về chính trị, kinh tế nhất là an ninh – quốc n 2 phòng, phía Bắc giáp với huyện Đại Tân (Quảng Tây – Trung Quốc), phía Đông giáp xã Đàm Thủy, phía Tây giáp xã Đình Phong và xã Phong Châu, phía Nam giáp với xã Đức Quang – Hạ Lang.
Trong những năm qua, phát triển kinh tế của xã đã đạt đƣợc những thành tựu khả quan, cơ cấu kinh tế chuyển dần theo hƣớng công nghiệp- xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của xã cũng gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nƣớc trong vùng việc phát triển các ngành kinh doanh, dịch vụ, sản xuất công nghiệp làm cho nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân đang có nguy cơ ô nhiễm cao. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Chí Viễn – huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích nghiên cứu Đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Chí Viễn - huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng. Từ đó xác định nguyên nhân, các nguồn tác động gây ô nhiễm làm ảnh hƣởng tới chất lƣợng nƣớc sinh hoạt và đề ra các biện pháp khắc phục, cải thiện chất lƣợng nguồn nƣớc cho xã Chí Viễn trong thời gian tới. Yêu cầu của đề tài - Công tác điều tra thu thập thông tin, phân tích chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Chí Viễn – huyện Trùng Khánh: + Thông tin và số liệu thu đƣợc chính xác trung thực, khách quan. + Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu.
+ Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lƣợng nƣớc sinh hoạt n 3 + Các kết quả phân tích phải đƣợc so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trƣờng Việt Nam. - Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đƣa ra phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của thị trấn. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Áp dụng các kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. + Nâng cao kiến thức thực tế.
+ Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng. - Ý nghĩa thực tiễn + Đánh giá đƣợc hiện trạng môi trƣờng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Chí Viễn – huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng. + Đề xuất một số biện pháp xử lý nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân. + Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trƣờng nƣớc sinh hoạt cho mọi ngƣời dân.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.Tầm quan trọng của nước Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con ngƣời. Nƣớc là thành phần quan trọng làm nên và duy trì sự sống trên Trái đất. Nƣớc tham gia vào hầu hết các ngành, các lĩnh vực của đời sống con ngƣời.
Chính vì vai trò rất quan trọng của nƣớc nên con ngƣời đã xếp nƣớc vào một trong những loại tài nguyên vô cùng quý giá. Nƣớc sạch là yếu tố quan trọng kéo dài tuổi thọ con ngƣời, 97% nƣớc trên Trái Đất là nƣớc muối, chỉ 3% còn lại là nƣớc ngọt nhƣng gần hơn 2/3 lƣợng nƣớc này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng đƣợc tìm thấy chủ yếu ở dạng nƣớc ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí, nhƣng lại nguồn nƣớc quan trọng đối với con ngƣời, là nguồn cung cấp nƣớc sinh hoạt cho nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trƣờng [13]. Cùng với tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá và sự gia tăng dân số khá nhanh, con ngƣời ngày càng tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nƣớc.
Điều này đã làm cho tài nguyên nƣớc có nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm ngày càng nặng, vì vậy phải sớm có những biện pháp quản lý phù hợp. Một số khái niệm liên quan - Môi trường: Theo khoản 1 điều 3, Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” (Luật Bảo vệ Môi trƣờng,2014) [5]. n 5 -“Tài nguyên nước”: Là nguồn nƣớc mà con ngƣời sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nƣớc dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trƣờng [14].
- “Nguồn nước ngọt”: Tổng các nguồn nƣớc ngọt đƣợc tái sử dụng bao gồm cả dòng chảy của các con sông và các nguồn nƣớc ngầm từ nƣớc mƣa trong nƣớc và các dòng chảy bắt nguồn từ nƣớc khác [7]. - “Nước sạch”: Theo Quyết định số 09/2005/QĐ - BYT ngày 11 tháng 3 năm 2005 của bộ trƣởng Y tế là nƣớc dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và hộ gia đình, không sử dụng làm nƣớc ăn uống trực tiếp (Dƣ Ngọc Thành, 2008) [6]. Nếu dùng trực tiếp cho ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nƣớc ăn uống ban hành kèm theo quyết định số 1329/QĐ - BYT ngày 18/04/2002 của Bộ trƣởng Bộ Y tế. - Nguồn nước bị ô nhiễm có dấu hiệu đặc trưng sau đây: + Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nƣớc và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn.
+ Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ …). + Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lƣợng của các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện các chất độc hại …). + Lƣợng ôxy hoà tan (DO) trong nƣớc giảm do các quá trình sinh hoá để oxy hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào. + Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lƣợng, có xuất hiện các vi trùng gây bệnh.
- “Ô nhiễm môi trường”: Theo khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam năm 2014, “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [13]. n 6 - “Ô nhiễm nước”: Theo hiến chƣơng châu Âu về nƣớc đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và động vật hoang dã” [15]. Nguồn gốc gây ô nhiễm nƣớc có thể là tự nhiên hay nhân tạo. Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc tự nhiên nhƣ mƣa rơi, khu công nghiệp… kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ.
Các chất gây bẩn còn có thể là nguồn gốc sinh vật tạo nên nhƣ xác động thực vật. Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải gây nên. Cơ sở thực tiễn Do nhiều lý do khác nhau, các nguồn nƣớc trên Trái đất ngày càng cạn kiệt. Ƣớc tính có khoảng 1/3 dân số thế giới đang sống trong tình trạng thiếu nƣớc trầm trọng.
Trong khi đó, dân số gia tăng với tốc độ chóng mặt, hiện nay dân số thế giới đã hơn 7 tỷ ngƣời. Quá trình đô thị hoá, hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đang khiến cho các nguồn nƣớc ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng (Nhƣ̃ng vấ n na ̣n ô nhiễm trên thế giới). Nguồn nƣớc bị ô nhiễm đã ảnh hƣởng rất lớn đến sức khoẻ con ngƣời. Gần 5 triệu ngƣời chết hàng năm ở các nƣớc đang phát triển có liên quan đến vấn đề thiếu nƣớc sạch Những chất gây ô nhiễm chủ yếu trong nƣớc là các mầm bệnh sinh ra từ chất thải của con ngƣời (vi khuẩn và vi rút), kim loại nặng và hoá chất từ chất thải công nghiệp, nông nghiệp.
Uống nƣớc đã bị ô nhiễm hoặc ăn thức ăn chế biến bằng nƣớc nhiễm độc là hình thức phơi nhiễm phổ biến nhất. Ăn cá bắt từ nguồn nƣớc bị ô nhiễm cũng có thể nguy hiểm vì chúng có thể mang mầm bệnh và tích luỹ các chất độc hại nhƣ kim loại nặng và các chất hữu cơ bền thông qua quá trình tích luỹ sinh học. Ngoài ra, con ngƣời cũng có thể bị ảnh hƣởng bởi cây trồng đƣợc tƣới bằng nƣớc ô nhiễm hoặc do đất bị nhiễm bẩn bởi các dòng sông ô nhiễm dâng lên (Những vấn nạn ô nhiễm trên thế giới) [9]. n 7 Các mầm bệnh trong nƣớc ô nhiễm có thể gây ra hàng loạt các bệnh liên quan đến đƣờng ruột, đặc biệt nguy hiểm và có thể gây tử vong đối với trẻ em và những ngƣời có thể tra ̣ng nh ạy cảm.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết ô nhiễm nguồn nƣớc là một trong những nguyên nhân gây tử vong lớn nhất trong số các vấn đề về môi trƣờng.