ĐẶT VẤN ĐỀ Khám sức khỏe định kỳ (KSKĐK) cho người lao động (NLĐ) là gói khám sức khỏe định kỳ cho người lao động bao gồm các nội dung bắt buộc theo quy định của Bộ Y tế được quy định trong Thông tư số 14/2013/TT-BYT năm 2013 về "Hướng dẫn khám sức khoẻ" và mới nhất là Thông tư số 32/2023/TT-BYT về "Quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh" về nội dung khám sức khoẻ trong Điều 36 (1, 2). Theo quy định bắt buộc của Bộ Y tế, NLĐ cần được KSKĐK từ 1-2 lần/ năm để dự phòng và phát hiện sớm các nguy cơ và vấn đề sức khoẻ (1). Với các đối tượng nguy cơ cao như người khuyết tật, người cao tuổi, người làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại phải được KSKĐK ít nhất 6 tháng một lần (1). KSKĐK giúp đánh giá chung tình trạng sức khoẻ và nguy cơ hoặc việc hiện mắc bệnh (lây nhiễm và không lây nhiễm) cũng như các bệnh nghề nghiệp ở NLĐ.
KSKĐK có ý nghĩa quan trọng giúp đánh giá tình trạng sức khoẻ hiện tại và phát hiện sớm các nguy cơ mắc bệnh cho NLĐ. Việc quản lý đầy đủ hồ sơ sức khoẻ qua thời gian cũng giúp nhân viên y tế (NVYT) theo dõi tình trạng sức khoẻ và giảm chi phí trong điều trị các vấn đề sức khoẻ của NLĐ (1). NLĐ tham gia KSKĐK sẽ tuỳ thuộc vào tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ, điều kiện kinh tế, nhu cầu và mục đích khám mà có thể đăng ký các gói khám phù hợp. Để đảm bảo chất lượng dịch vụ (CLDV) của KSKĐK, việc đo lường và đánh giá CLDV qua cảm nhận của khách hàng là rất quan trọng.
CLDV được định nghĩa là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi đã sử dụng qua sản phẩm dịch vụ (3). CLDV qua cảm nhận của khách hàng là rất quan trọng để tạo ra giá trị và thương hiệu cho một cơ sở (4). Dịch vụ y tế đạt chất lượng nghĩa là phải đáp ứng bằng hoặc hơn so với mong đợi của khách hàng (5). CLDV thông qua cảm nhận của khách hàng được đánh giá bằng nhiều công cụ, trong đó thang đo SERVPERF do 2 tác giả Cronin và Taylor đề xuất năm 1992 là một trong những bộ công cụ phổ biến nhất (6).
Trong hơn 30 năm kể từ khi các thang đo đánh giá CLDV qua cảm nhận của khách hàng ra đời, nhiều đánh giá CLDV đã được triển khai. Các nghiên cứu được 2 thực hiện tại nhiều các quốc gia trên thế giới sử dụng bộ công cụ SERVPERF. Ví dụ như, nghiên cứu tại các nước có thu nhập thấp và trung bình như Trung Quốc, Albania Jordan và Ả Rập Xê Út chỉ ra rằng tỷ lệ người bệnh (NB) đánh giá tốt chất lượng của dịch vụ ngoại trú dao động trong khoảng 40% đến 88% (7-11). Tại Việt Nam, các nghiên cứu về CLDV cũng chỉ ra khách hàng cảm nhận tốt hơn ở các bệnh viện công lập so với các bệnh viện tư nhân ở các khía cạnh về chất lượng chuyên môn hơn so với các khía cạnh liên quan tới phục vụ và cơ sở vật chất (12-14).
Ngoài ra, khách hàng thường đánh giá chưa tích cực các khía cạnh của CLDV về thời gian chờ, thủ tục rườm ra và hỗ trợ ngoại viện, v. Về KSKĐK, các nghiên cứu chỉ ra ba nhóm yếu tố lớn có ảnh hưởng tới việc đánh giá CLDV là người tham gia khám, nhân viên y tế và yếu tố thuộc về bệnh viện (13, 16). Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Medic Bình Dương nằm ở trung tâm của tỉnh Bình Dương, nơi tập trung nhiều khu chế xuất và khu công nghiệp nên nhu cầu KSKĐK của các doanh nghiệp là rất lớn. Từ khi thành lập cho đến nay, BVĐK Medic Bình Dương đã chú trọng tới hoạt động KSKĐK theo định hướng chuyên nghiệp trong cả quy trình và chất lượng khám.
Hoạt động KSKĐK của bệnh viện tập trung chủ yếu vào nhóm đối tượng người lao động thông qua hợp đồng ký với các công ty. Chỉ riêng trong quý III năm 2022, BVĐK Medic Bình Dương đã thực hiện KSKĐK cho 35 doanh nghiệp. Ban lãnh đạo BVĐK Medic Bình Dương xác định dịch vụ KSKĐK là một trong các dịch vụ quan trọng cần ưu tiên của bệnh viện. Đánh giá CLDV của khách hàng là một chủ đề ưu tiên để giúp ngày càng cung cấp tốt hơn dịch vụ này.
Do đó để trả lời câu hỏi chất lượng dịch vụ KSKĐK qua cảm nhận của người sử dụng dịch vụ tại bệnh viện như thế nào và các yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ KSKĐK. Số liệu sẽ là cơ sở để tham mưu Ban giám đốc bệnh viện hoạch định các chính sách thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ điều trị trong tương lai. Vì thế, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Chất lượng dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Medic Bình Dương năm 2024”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả chất lượng dịch vụ cho người lao động tham gia khám sức khoẻ định kỳ tại bệnh viện đa khoa Medic Bình Dương năm 2024. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cho người lao động tham gia khám sức khoẻ định kỳ tại bệnh viện đa khoa Medic Bình Dương năm 2024. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chính 2.
Khám sức khoẻ định kỳ Theo luật khám bệnh, chữa bệnh mới nhất năm 2023 số 15/2023/QH15, khám bệnh là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để đánh giá tình trạng sức khỏe, nguy cơ đối với sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NB (17). Chữa bệnh là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để giải quyết tình trạng bệnh, ngăn ngừa sự xuất hiện, tiến triển của bệnh hoặc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NB trên cơ sở kết quả khám bệnh (17). KSKĐK cung cấp dịch vụ khám đầy đủ các khoa lâm sàng, cận lâm sàng để đánh giá tình trạng sức khỏe cũng như tầm soát sàng lọc các bệnh lý hiểm nghèo, bệnh lý mạn tính. Từ đó cung cấp cho người được đi khám thông tin và tư vấn chăm sóc sức khỏe cho người đi KSKĐK.
Chất lượng dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm được nhiều tác giả đề cập theo nhiều góc độ khác nhau. Hiểu một cách đơn giản, dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của cá nhân và xã hội. Dịch vụ không phải là một dạng sản phẩm cụ thể như hàng hoá. Theo Luật giá năm 2023 số 16/2023/QH15, dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật (18).
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm do tác giả Philip Kotler và cộng sự đưa ra vào năm 2008: “Dịch vụ được hiểu là các hoạt động tạo ra giá trị nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dịch vụ bao gồm cả quá trình sản xuất 5 và lưu thông để cung cấp cho từng đối tượng khách hàng khác nhau” (19). Dịch vụ được chia là 3 nhóm chính là Kinh doanh của công ty và tổ chức, Tiêu dùng của người dân bao gồm cả dịch vụ khám, chữa bệnh và Dịch vụ công của cơ quan nhà nước. Theo ISO 9001, chất lượng dịch vụ (Service Quality) là tập hợp những đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng có khả năng thỏa mãn các yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn (20).
Ngoài ra, khái niệm chất lượng dịch vụ còn được hiểu là làm tốt việc cung cấp dịch vụ và trải nghiệm của khách hàng (20). Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm CLDV theo Parasuraman, Zeithaml và Berry (1988) (3). Theo đó, CLDV là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua sản phẩm dịch vụ đó. Đây có thể xem là khái niệm tổng quát nhất, bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ đứng trên quan điểm khách hàng, khách hàng là trung tâm (3).
CLDV là sự đánh giá của khách hàng về dịch vụ mà khách hàng sử dụng, là khoảng cách giữa những gì khách hàng mong đợi và những gì khách hàng nhận được. Nếu khách hàng nhận được bằng hoặc nhiều hơn so với mong đợi, điều này có nghĩa là dịch vụ có chất lượng tốt. Ngược lại, nếu khách hàng nhận được ít hơn so với kỳ vọng ban đầu thì có thể nói dịch vụ không có chất lượng. Chất lượng dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ Dịch vụ y tế được hiểu là dịch vụ được cung cấp bởi nhân viên y tế (NVYT) bao gồm thăm khám, điều trị, chăm sóc và các hoạt động liên quan khác (4).
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), dịch vụ khám chữa bệnh hay dịch vụ y tế là bất kỳ dịch vụ nào góp phần cải thiện sức khỏe hoặc chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng cho NB và không nhất thiết chỉ giới hạn ở các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Chúng bao gồm các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của cá nhân và dịch vụ công cộng (21). Theo Dự thảo Thông tư quy định đánh giá và công nhận chất lượng bệnh viện, chất lượng bệnh viện là toàn bộ các hoạt động liên quan đến chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh và các dịch vụ phục vụ NB, hướng tới sự hài lòng toàn diện của NB, người nhà NB và nhân viên y tế (22). Các khía cạnh chất lượng gồm khả năng tiếp cận dịch vụ, an toàn, lấy NB là trung tâm, hướng về nhân viên y tế, trình độ chuyên môn, tính kịp thời, tính tiện nghi, công bằng, hiệu quả (22).
6 Với quan điểm khách hàng là trung tâm, CLDV khám bệnh, chữa bệnh có thể được đánh giá thông qua cảm nhận của người sử dụng. Có nghĩa là, CLDV khám bệnh, chữa bệnh cần phải đáp ứng mong đợi và thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng dịch vụ (3). Theo quyết định số 3186/QĐ-BYT, Bộ Y tế cung yêu cầu các bệnh viện cần khảo sát sự hài lòng của NB nội trú, ngoại trú, bà mẹ (mỗi nhóm 30 người) và toàn bộ nhân viên y tế (khuyết danh), nhập phiếu trên phần mềm trực tuyến (23). Trong luận văn này, CLDV KSKĐK được đánh giá thông qua cảm nhận của người lao động với tất cả các hoạt động liên quan đến dịch vụ KSKĐK do bệnh viện Medic Bình Dương cung cấp.