Chương 1 trình bày cơ sở lý luận của đề tài bao gồm các nội dung chính: (1) Khái niệm dịch vụ nói chung và dịch vụ mua hàng cung ứng nói riêng; (2) CLDV, thang đo CLDV SERVQUAL & biến thể SERVPERF và các tiêu chí đánh giá CLDV mua hàng cung ứng; (3) Quan điểm mới về khách hàng nội bộ (4) Các nghiên cứu trước đây về CLDV mua hàng.2 Khái niệm về dịch vụ và dịch vụ mua hàng cung ứng 1.1 Khái niệm dịch vụ: Dịch vụ là những hoạt động mà một bên (nhà cung cấp dịch vụ) có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không chuyển giao quyền sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Vd: dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ du lịch, dịch vụ đào tạo, dịch vụ ăn uống, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ giải trí…. Dịch vụ có các đặc trưng cơ bản khác với sản phẩm hữu hình khác là: • Tính vô hình: dịch vụ không có hình dáng cụ thể; chúng ta không thể sờ mó, cầm nắm, cân, đong, đo đếm được như các sản phẩm hữu hình.
Và do vậy mà dịch vụ cũng không thể tồn trữ, lưu kho. • Tính không thể tách rời nghĩa là việc tiêu thụ và sản xuất dịch vụ được thực hiện đồng thời. Những sản phẩm hữu hình sau khi được sản xuất sẽ thông qua các đại lý trung gian, bán sỉ và lẻ rồi mới sử dụng. Còn dịch vụ việc sản xuất và tiêu thụ diễn ra cùng lúc, có sự hiện diện của người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ.
• Tính không đồng nhất hay không ổn định về chất lượng: do việc sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời nên CLDV khác nhau theo thời gian, không gian, người phục vụ và khách hàng. Sự biến thiên trong CLDV diễn ra thường xuyên hơn so với sản phẩm hữu hình do mức độ tương tác của con người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trong dịch vụ cao hơn rât nhiều so với sản phẩm hữu hình. Dịch vụ ẩn chứa sức lao động của con người càng cao thì CLDV càng không đồng nhất. Đối với những dịch vụ đòi hỏi sự tham gia nhiều hơn của chính người sử dụng dịch vụ thì người sử dụng này ảnh hướng rất lớn đến CLDV.
Và khi đánh giá CLDV, khách hàng dựa nhiều vào cảm nhận cá nhân cũng như trạng thái tâm lý lúc đánh giá. Ví dụ: dịch vụ khám chữa bệnh đòi hỏi chính bệnh nhân phải cung cấp các thông tin hữu ích để bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh và kê toa thuốc điều trị chính xác. Như vậy, chính nguồn thông tin mà bệnh nhân cung cấp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLDV khám chữa bệnh.2 Dịch vụ mua hàng cung ứng: Toàn cầu hóa hiện nay có vai trò quan trọng của sự hình thành các chuỗi cung ứng - một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm hữu hình hoặc dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng.1: Vị trí PMH trong chuỗi cung ứng. Nguồn: Monczka, Handfield, Giunipero and Patterson (2009),[14] Trong chuỗi cung ứng, vai trò của PMH là cực kỳ quan trọng, chịu trách nhiệm cung cấp các yếu tố đầu vào bao gồm cả sản phẩm, dịch vụ theo yêu cầu sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 xuất hoặc kinh doanh của doanh nghiệp với chất lượng cao, thời gian ngắn nhất và chi phí hiệu quả nhất.
Có thể nói, các hoạt động của PMH đòi hỏi 5 đúng: đúng giá, đúng chất lượng, đúng số lượng, đúng nguồn cung cấp, đúng thời gian, đúng địa điểm. Weele (2005) [19] cho rằng, các hoạt động cơ bản trong qui trình mua hàng là: Xác định chi tiết các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ (chất lượng, số lượng) cần mua. Lựa chọn NCU thích hợp nhất, phát triển thành qui trình để có thể lựa chọn được NCU tốt nhất. Đàm phán với NCU để xác lập thỏa thuận khung, cơ sở để xây dựng hợp đồng mua hàng chi tiết.
Đặt hàng với NCU đã chọn Kiểm tra, giám sát, theo dõi đơn hàng đảm bảo việc cung ứng theo yêu cầu (Yêu cầu chất lượng, số lượng, giá cả, thời gian …) Giải quyết các khiếu nại, cập nhật các thông tin mua hàng vào hồ sơ dữ liệu, đánh giá NCU, xếp hạng NCU.2: Quy trình hoạt động mua hàng Nguồn: Weele (2005), [19] Ngày nay, trong các tập đoàn lớn hay trong các công ty đa quốc gia, người ta thường dùng thuật ngữ “Procurement” để chỉ hoạt động mua hàng. Thuật ngữ này có phạm vi rộng và bao quát hơn thuật ngữ “Purchasing”, nó bao phủ thêm các khâu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đầu và cuối của quá trình mua hàng, bao gồm giao tiếp với bộ phận có nhu cầu mua hàng và các bên thứ 3 để đưa được hàng hóa về điểm đến cuối cùng.3 CLDV, thang đo CLDV và sự hài lòng của khách hàng 1.1 Khái niệm về CLDV: - Parasuraman & cộng sự (1985) [16] cho rằng khách hàng đánh giá CLDV bằng cách so sánh giữa những gì họ mong đợi với những gì thực tế dịch vụ được thực hiện. Do vậy, CLDV có thể xác định bằng khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ của khách hàng với những gì mà khách hàng cảm nhận được ở thực tế dịch vụ cung cấp. - Cronin và Taylor (1992) [9] cho rằng CLDV chính là CLDV theo cảm nhận của khách hàng mà không cần so sánh với kỳ vọng vì nó khiến khách hàng nhầm lẫn, khó phân biệt.
- Đối với dịch vụ mua hàng trong chuỗi cung ứng, Weele (2005) [19] cho rằng dịch vụ mua hàng có hàm lượng lao động con người khá cao, nó yêu cầu thông tin đầu vào do người sử dụng dịch vụ cung cấp phải chính xác, đầy đủ, rõ ràng. Ví dụ: sản phẩm gì, từ nhà cung cấp nào, cấu hình chi tiết, số lượng, giá cả mong muốn, thời gian mong muốn nhận hàng… Mặt khác, năng lực tài chính của đơn vị/ người sử dụng dịch vụ cũng ảnh hưởng đến CLDV. Nếu người sử dụng có năng lực tài chính mạnh, có khả năng thanh toán theo yêu cầu của nhà cung cấp thì PMH có cơ sở để đẩy nhanh tiến độ mua hàng. Đánh giá CLDV mua hàng trong giả định các yếu tố đầu vào từ người sử dụng dịch vụ là rõ ràng, minh bạch với khả năng tài chính phù hợp thì CLDV mua hàng sẽ được xem xét trên các khía cạnh: Hàng về nhập kho đúng sản phẩm, cấu hình, đủ số lượng theo yêu cầu đặt hàng Hoàn thành thời gian cam kết giao hàng Chi phí nhập kho là hợp lý Tỉ lệ hàng chậm, hàng lỗi trong mức chấp nhận Theo dõi công nợ thanh toán đúng nhà cung cấp, đúng thời hạn, đúng giá trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Thông tin xuyên suốt cho đơn vị/ cá nhân yêu cầu đặt hàng khi có vấn đề làm ảnh hưởng yêu cầu đặt hàng Khả năng xử lý tình huống phát sinh trong quá trình xử lý đơn hàng 1.2 Thang đo CLDV SERVQUAL và biến thể SERVPERF: 1.1 Mô hình 5 khoảng cách CLDV: Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985, 1988,1994, 2004) được xem là những người có đóng góp quan trọng cho nghiên cứu CLDV một cách cụ thể và chi tiết trong lĩnh vực tiếp thị với việc đưa ra mô hình 5 khoảng cách CLDV: Cảm nhận của ban lãnh đạo về kỳ vọng của khách hàng Hình 1.3: Mô hình 5 khoảng cách CLDV Nguồn: Zeithaml, Parasuraman, 2004 [21] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Khoảng cách 1: Không biết khách hàng mong đợi điều gì: Công ty cung cấp dịch vụ không hiểu được kỳ vọng của khách hàng.
Điều này là do nghiên cứu thị trường chưa đầy đủ, thiếu sự liên hệ, thông tin giữa những nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và ban quản trị. Khoảng cách 2: Các tiêu chuẩn và thiết kế dịch vụ sai: Công ty dịch vụ sử dụng các thiết kế và tiêu chuẩn căn cứ trên mối quan tâm của công ty nhiều hơn là dựa trên những kỳ vọng và ưu tiên của khách hàng. Khoảng cách 3: Không chuyển giao đúng các tiêu chuẩn dịch vụ: Ngay cả khi tiêu chuẩn dịch vụ đã kề cận với mong đợi của khách hàng thì khoảng cách vẫn xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chuẩn dịch vụ đã được xác định. Nguyên nhân là do các vấn đề về nhân lực trong nội bộ công ty như tuyển dụng nhân viên mới, đào tạo không đạt yêu cầu, cơ cấu của tổ chức, chính sách phúc lợi động viên…Ngoài ra, khi công ty chuyển giao dịch vụ thông qua trung gian như đại lý, nhượng quyền hay môi giới thì những đối tượng này không chuyển giao dịch vụ đúng với tiêu chuẩn dịch vụ mà công ty đưa ra.
Khoảng cách 4: Cam kết và thực tế thực hiện không giống nhau Khách hàng trở nên kỳ vọng nhiều hơn vào dịch vụ do những quảng cáo thiếu trung thực, thổi phồng chất lượng gây ra. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo, khuyến mãi có thể làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo đúng những gì đã hứa hẹn. Khoảng cách 5: Khác biệt giữa chất lượng khách hàng kỳ vọng và chất lượng mà họ cảm nhận được. CLDV phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này, một khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Parasuraman và cộng sự (1985) [16] cho rằng CLDV là hàm số của khoảng cách thứ 5. Khoảng cách thứ 5 này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các khoảng cách 1, 2, 3, 4. Mô hình CLDV được biểu diễn bởi hàm số: CLDV= F{KC5=f(KC1,KC2,KC3,KC4)} (1.1) Trong đó: CLDV: chất lượng dịch vụ KC1,KC2,KC3,KC4, KC5: khoảng cách thứ 1,2,3,4,5 trong mô hình CLDV Để rút ngắn khoảng cách thứ 5 hay làm tăng CLDV, nhà quản trị dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này bằng cách: xác định khách hàng kỳ vọng điều gì, phát triển các tiêu chuẩn và thiết kế hướng về khách hàng, cải thiện khâu thực hiện dịch vụ và kiểm soát tốt các cam kết dịch vụ.