Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.1 Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm công chức Nền hành chính nhà nước nào cũng cấu thành bởi những yếu tố cơ bản là thể chế hành chính nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước, công chức nhà nước. Công chức là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Nhưng do đặc thù của từng quốc gia nên quan niệm công chức ở các nước không hoàn toàn giống nhau.
Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước. Một số nước có quan niệm rộng hơn, công chức bao gồm những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức có tính chất công quyền. Ở Mỹ, công chức bao gồm tất cả những nhân viên hành chính của chính phủ, kể cả những người được bổ nhiệm về chính trị như: Bộ trưởng, Thứ trưởng, trợ lý Bộ trưởng, người đứng đầu các cơ quan Chính phủ. Tuy nhiên, khái niệm công chức trong diện điều chỉnh của Luật công chức lại không bao gồm những công chức được bổ nhiệm về chính trị, họ được gọi là viên chức chức nghiệp.
Đặc điểm của công chức Mỹ là không mang tính thường xuyên liên tục mà tồn tại hệ thống thải loại, việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức chủ yếu theo công trạng thực tế, công chức chỉ được tuyển dụng vào một công việc cụ thể mà không có con đường chức nghiệp. Ở Trung Quốc, công chức gồm hai loại: công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chính nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều lệ công chức và 9 Luan van Luật Tổ chức chính quyền các cấp; và công chức nghiệp vụ, là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại đa số công chức nhà nước, chịu trách nhiệm chấp hành và thực thi các chính sách và pháp luật của Nhà nước. Ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Quy chế công chức. Theo quy chế này, công chức được hiểu là những công dân Việt Nam được chính quyền tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do chính phủ quy định.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên Quy chế công chức theo sắc lệnh này không được thực hiện đầy đủ và trong thực tế thời gian này người ta thường dùng khái niệm cán bộ để chỉ những người làm việc trong biên chế nhà nước nói chung. Những năm đầu thập kỷ 80, khái niệm công chức được xác định tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1985. Nghị định này quy định cán bộ, công chức là “công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp”. Ngày 26/2/1998, Ủy ban Thường vụ,Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức và được sửa đổi bổ sung năm 2003.
Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên pháp lệnh không đưa ra giới hạn để phân biệt thế nào là cán bộ, thế nào là công chức, ai là cán bộ, ai là công chức. Trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của đời sống pháp lý, Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN 10 Luan van Việt Nam Khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975 nước CHDCND Lào đã thực hiện chế độ công chức trên phạm vi cả nước theo đó, tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung trong một cụm từ “cán bộ, công nhân viên nhà nước ”.
Chuyển sang thời kỳ đổi mới nước CHDCND Lào, khái niệm công chức được quy định theo Luật Cán bộ, Công chức số 74/QH ngày 18/12/2015 về cán bộ, công chức nước CHDCND Lào. Luật chỉ rõ “Công dân Lào được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”. Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước Lào trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng công chức chính quy, hiện đại. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng NDCM Lào trong văn bản ngày 18/01/2016 chỉ 11 Luan van rõ: Ở nước CHDCND Lào, sự hình thành công chức có đặc điểm khác các nước.
Cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước, đảng, đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Bởi vậy, cần có một pháp lệnh có phạm vi điều chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn hệ thống chính trị bao gồm: công chức nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội, an ninh…), cán bộ làm việc chuyên trách ở các cơ quan Đảng, đoàn thể. Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện Công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện là một bộ phận của công chức hành chính Lào. Do vậy, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện cũng mang những đặc điểm chung của đội ngũ công chức hành chính Lào nói chung.
Bên cạnh những đặc điểm chung, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện cũng có một số đặc điểm mang tính đặc thù sau: - Công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện chỉ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn QLNN đối với ngành, lĩnh vực ở phạm vi quản lý của UBND cấp huyện. - Công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện là đơn vị trung gian nối giữa công chức cấp tỉnh với công chức cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), vì vậy phần lớn các công việc vừa mang tính thừa hành, thực hiện các chỉ đạo của cấp trên, lại vừa phải thực hiện việc chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các công vụ đối với công chức cấp cơ sở. - Có sự am hiểu sâu sắc về tình hình, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội trên địa bàn huyện. - Có sự gần gũi với quần chúng nhân dân ở địa phương ở một mức độ nhất định.
Vị trí, vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện Hoạt động QLNN là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và điều hành mọi hoạt động trong xã hội. Đó chính là hoạt động điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người bằng quyền lực nhà nước. Hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng, xét cho cùng, được quyết định bởi phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức HCNN, trong đó phải kể đến vai trò của công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện. Là một bộ phận của nền hành chính, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện có vai trò quan trọng trong công tác quản lý HCNN của địa phương, thể hiện ở các khía cạnh sau: Trước hết, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện có vai trò quan trọng trong thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong quản lý địa phương, hay nói cách khác công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện là chủ thể của nền hành chính theo phân quyền lãnh thổ.
Thứ hai, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện có vai trò làm cầu nối, là mắt xích truyền thông tin và đưa các chủ trương, chính sách, chiến lược từ trung ương, từ tỉnh vào triển khai tại địa phương. Công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện là lực lượng quan trọng nhất trong đội ngũ cán bộ, công chức của huyện. Với chức năng QLNN, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện là người tổ chức, triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách của trung ương, cấp tỉnh, đồng thời là người tham mưu cho UBND huyện đưa ra những quyết sách, đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương và tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội nhằm thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong thực tiễn quản lý, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện đã góp phần vào thực hiện những chỉ tiêu kinh tế xã 13 Luan van hội của huyện như nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ hộ đói, nghèo, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh trật tự xã hội… Thứ ba, công chức các CQCM thuộc UBND cấp huyện là đại diện cho tiếng nói, quyền lợi của nhân dân địa phương, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân và phản hồi thông tin quản lý từ địa phương tới cơ quan HCNN cấp trên và trung ương.