Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu di tích lịch sử Pác Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm thành phố Cao Bằng 55 km về phía Bắc. Đây là địa danh gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1941–1945 sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Khu di tích sở hữu 42 di tích gốc tiêu biểu như cột mốc 108, suối Lê Nin, núi Các Mác, hang Cốc Bó, hang Lũng Lạn, hang Ngườm Vài, bàn đá dịch sử Đảng và lán Khuổi Nặm. Ngày 10/05/2012, khu di tích được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
Bên cạnh giá trị lịch sử sâu sắc, Pác Bó có cảnh quan tự nhiên đặc sắc với hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và mạng lưới sông suối đầu nguồn. Lượng khách du lịch đến tham quan hàng năm đạt trên 25.000 lượt và tiếp tục tăng mạnh, kết hợp giữa du lịch văn hóa, lịch sử và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, sự gia tăng lượng khách cùng các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng đã tạo ra sức ép đáng kể lên môi trường sinh thái địa phương. Trước thời điểm nghiên cứu năm 2014, khu vực này chưa có đề tài khoa học nào đánh giá chuyên sâu và toàn diện về tác động của du lịch đến môi trường sinh thái.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 4 nội dung cụ thể:
- Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường sinh thái tại khu di tích lịch sử Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý về môi trường và hệ sinh thái của khu di tích.
- Xác định và làm rõ các ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường sinh thái khu di tích.
- Đề xuất một số biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và duy trì các giá trị sinh thái vốn có.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường sinh thái, hiện trạng phát triển hoạt động du lịch và các tác động tương hỗ giữa hoạt động du lịch với môi trường sinh thái tại khu di tích lịch sử Pác Bó.
- Phạm vi không gian: Khu di tích lịch sử Pác Bó (diện tích quy hoạch 500 ha, diện tích sử dụng 295 ha, diện tích rừng quản lý 100 ha) và địa bàn dân cư xung quanh thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2013 và tiến hành khảo sát thực địa từ ngày 31/12/2013 đến tháng 04/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về di tích lịch sử văn hóa, môi trường sinh thái, du lịch sinh thái và môi trường du lịch. Tác giả tổng hợp các định nghĩa học thuật về du lịch sinh thái của Hector Ceballos-Lascurain (1987), Hiệp hội Du lịch Sinh thái Hoa Kỳ (1998), Honey (1999), Lê Huy Bá (2000), cùng các khái niệm chuẩn hóa tại Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999) và Luật Du lịch (2005). Đồng thời, đề tài kế thừa các báo cáo quốc tế từ Hội đồng Du lịch Thế giới (WTTC) về các tác động tiềm tàng của du lịch lên đất, nước, không khí, động thực vật, và các công trình trong nước của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (Phạm Trung Lương, 2010) và nghiên cứu tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (Đặng Văn Huyến, 2003).
Cơ sở pháp lý bao gồm:
- Luật Di sản văn hóa năm 2001;
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005;
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;
- Luật Du lịch năm 2005;
- Luật Đa dạng sinh học năm 2008;
- Các Nghị định: số 80/2006/NĐ-CP, số 21/2008/NĐ-CP, số 117/2009/NĐ-CP, số 32/2006/NĐ-CP và Quyết định số 126/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ;
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT (cột A2).
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo kinh tế - xã hội, biến động đất đai từ UBND xã Trường Hà, số liệu du khách và hạ tầng từ Ban Quản lý khu di tích Pác Bó, chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước từ Trung tâm ĐTM&TCLT tỉnh Cao Bằng.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát, ghi nhận thực tế và chụp ảnh hiện trạng hạ tầng xây dựng, các bãi thải, điểm đổ rác và dòng chảy suối Lê Nin.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu câu hỏi: Tiến hành điều tra trực tiếp với tổng quy mô mẫu gồm 90 phiếu, chia đều cho 3 nhóm đối tượng: 30 cán bộ quản lý di tích, 30 hộ dân bản địa tại làng Pác Bó và 30 khách du lịch.
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Tham vấn ý kiến từ giảng viên hướng dẫn và cán bộ chuyên môn thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng.
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Thống kê mô tả, kiểm tra chéo loại bỏ sai số, tính toán giá trị trung bình bằng phần mềm Microsoft Excel và so sánh đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Đặt vấn đề
Nêu rõ tính cấp thiết của việc bảo vệ môi trường sinh thái trong bối cảnh phát triển kinh tế du lịch. Giới thiệu tổng quan vị thế lịch sử - văn hóa của di tích Pác Bó gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xác định rõ mục tiêu, yêu cầu khoa học và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quản lý môi trường tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa khung lý luận về di tích quốc gia đặc biệt, phân tích mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa môi trường và du lịch. Trình bày tổng quan các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và rừng đặc dụng. Tổng hợp tài liệu quốc tế của WTTC về các tác động của hoạt động du lịch đến thảm thực vật, chất lượng nước, không khí và tập tính động vật hoang dã. Phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Cao Bằng năm 2013 (đón trên 517.200 lượt khách, doanh thu 79 tỷ đồng, nộp ngân sách 7,9 tỷ đồng) và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu môi trường du lịch tại Pác Bó.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày ranh giới không gian, đối tượng và lịch trình khảo sát thực địa từ cuối năm 2013 đến tháng 04/2014. Thiết kế chi tiết 4 nội dung nghiên cứu chính và quy trình triển khai 5 phương pháp nghiên cứu gồm: thu thập dữ liệu thứ cấp, khảo sát thực địa, điều tra bảng hỏi (90 mẫu), tham vấn chuyên gia và xử lý dữ liệu định lượng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Trường Hà
- Vị trí và địa hình: Xã biên giới vùng 2 thuộc huyện Hà Quảng, tổng diện tích tự nhiên là 2.945,29 ha. Địa hình đồi núi phức tạp, phân thành vùng đồi núi thấp (250–500 m) dùng canh tác nông nghiệp và vùng núi cao (500–950 m) khoanh nuôi bảo vệ rừng đặc dụng.
- Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới 2 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình 22,4°C, lượng mưa trung bình 1.800 mm/năm (80% lượng mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9), độ ẩm 84%. Suối Lê Nin là trục thủy văn chính, nhận nước từ suối Khuổi Hong, Bản Hoàng, có độ dốc lớn nên lưu lượng biến động mạnh giữa mùa khô và mùa mưa, tiềm ẩn nguy cơ lũ cục bộ.
- Kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 15,3%/năm; cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm 85%, công nghiệp 5%, thương mại dịch vụ 10%. Toàn xã có 1.568 nhân khẩu với 404 hộ (mật độ 53 người/km²). Lao động toàn xã gồm 741 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 86% (655 người), lao động phi nông nghiệp chiếm 14% (104 người). Điều tra 30 hộ dân làng Pác Bó cho thấy 100% làm nông nghiệp và có 12 hộ (40%) kết hợp làm thêm dịch vụ, buôn bán nhỏ phục vụ du lịch.
| Nhóm đất |
Diện tích 2010 (ha) |
Diện tích 2011 (ha) |
Biến động 2010–2011 (ha) |
Diện tích 2012 (ha) |
Diện tích 2013 (ha) |
Biến động 2012–2013 (ha) |
| Đất nông nghiệp |
2.763,91 |
2.763,10 |
-0,81 |
2.763,10 |
2.761,28 |
-1,82 |
| - Đất trồng cây hàng năm |
227,80 |
226,99 |
-0,81 |
226,99 |
225,17 |
-1,82 |
| - Đất trồng lúa |
143,26 |
142,45 |
-0,81 |
142,45 |
141,39 |
-1,06 |
| - Đất lâm nghiệp (rừng đặc dụng) |
2.527,96 |
2.527,96 |
0,00 |
2.527,96 |
2.527,96 |
0,00 |
| Đất phi nông nghiệp |
125,71 |
126,52 |
+0,81 |
127,00 |
128,82 |
+1,82 |
| - Đất công cộng (di tích, giao thông...) |
73,03 |
74,00 |
+0,97 |
74,00 |
75,95 |
+1,95 |
| - Đất ở nông thôn |
20,41 |
20,41 |
0,00 |
20,41 |
20,41 |
0,00 |
| Đất chưa sử dụng |
55,52 |
55,52 |
0,00 |
55,52 |
55,52 |
0,00 |
| Tổng diện tích tự nhiên |
2.945,29 |
2.945,29 |
0,00 |
2.945,29 |
2.945,29 |
0,00 |
2. Hiện trạng chất lượng môi trường sinh thái khu di tích
- Đa dạng sinh học: Khu vực cảnh quan Pác Bó phân loại thành 8 hệ sinh thái chính trên tổng diện tích 8.005,95 ha:
| STT |
Hệ sinh thái khu vực bảo vệ cảnh quan Pác Bó |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (<600 m) |
888,20 |
11,09 |
| 2 |
HST rừng kín thường xanh hỗn giao lá rộng – lá kim á nhiệt đới núi trung bình (600–1.600 m) |
858,25 |
10,72 |
| 3 |
HST rừng trên núi đá vôi |
3.616,44 |
45,17 |
| 4 |
HST rừng trồng |
578,22 |
7,22 |
| 5 |
HST tràng cỏ, cây bụi |
546,94 |
6,83 |
| 6 |
HST đất ngập nước |
25,67 |
0,32 |
| 7 |
HST nông nghiệp |
1.434,73 |
17,93 |
| 8 |
HST khu dân cư |
57,50 |
0,72 |
|
Tổng cộng |
8.005,95 |
100,00 |
Thực vật bậc cao ghi nhận 471 loài thuộc 359 chi, 86 họ (có các loài quý hiếm như nghiến, bách xanh, vù hương, thông). Động vật ghi nhận 26 loài thú, 91 loài chim, 16 loài bò sát và 11 loài ếch nhái.
- Chất lượng nước mặt suối Lê Nin: Quan trắc tại vị trí đập tràn qua các năm 2011, 2012, 2013 cho thấy các chỉ tiêu hóa lý và vi sinh vật đều đạt chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (cột A2):
| Chỉ tiêu |
Đơn vị |
Năm 2011 |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2) |
| Độ đục |
NTU |
3,8 |
4,0 |
1,0 |
- |
| TSS |
mg/l |
4,0 |
1,0 |
3,0 |
50 |
| pH |
- |
7,25 |
8,27 |
8,04 |
6,0–8,5 |
| Fe |
mg/l |
0,01 |
0,04 |
0,02 |
1,0 |
| As |
mg/l |
0,000045 |
0,00028 |
0,00059 |
0,02 |
| COD |
mg/l |
10,2 |
13,1 |
11,0 |
15 |
| DO |
mg/l |
5,46 |
6,03 |
6,60 |
$\ge$ 5 |
| BOD$_5$ |
mg/l |
2,60 |
5,37 |
5,57 |
6 |
3. Ảnh hưởng từ hoạt động du lịch tới môi trường sinh thái
- Tăng trưởng lượng khách: Năm 2011 đón 13.627 lượt; năm 2012 đón 25.961 lượt; năm 2013 đón 34.961 lượt (gồm 34.801 khách nội địa và 160 khách quốc tế với 1.071 đoàn). Ngày bình thường đón dưới 100 khách/ngày, ngày cao điểm đón trên 3.000 khách/ngày.
- Tác động xây dựng hạ tầng: Quá trình triển khai các hạng mục (nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và sân trung tâm 5.000 m², sàn kè số 1 và 2 là 6.500 m², nhà công vụ 1.000 m², bãi đỗ xe Làng Nhình 1.000 m², nhà văn hóa xóm 500 m² và đường nội vùng) đã san lấp hơn 14.000 m² mặt bằng tự nhiên. Hoạt động này làm mất thảm thực vật, chia cắt sinh cảnh, tạo bãi chứa đất đá thải cách UBND xã 200 m, tạo các vách taluy đứng có nguy cơ sạt lở, phát sinh bụi và tiếng ồn.
- Tác động rác thải sinh hoạt: Mỗi khách du lịch để lại trung bình 1 kg rác/ngày, khiến ngày cao điểm lượng rác phát sinh vượt 3.000 kg/ngày. Trong khi đó, tần suất thu gom chỉ đạt 1 lần/tháng (tháng thường) và 2 lần/tháng (tháng cao điểm). Khảo sát thực địa ghi nhận tình trạng công nhân đốt rác trực tiếp trong thùng chứa và bãi rác tự phát sau tảng đá gần khu vực bàn đá Bác Hồ.
| STT |
Thành phần chất thải rắn |
Tỷ lệ khối lượng (%) |
Nguồn phát sinh chính |
| 1 |
Chất hữu cơ (thức ăn thừa, rau quả) |
58,20 |
Quán ăn uống, thức ăn du khách mang theo |
| 2 |
Nilon (túi đựng thực phẩm) |
15,80 |
Hoạt động thương mại, bao bì đựng đồ ăn |
| 3 |
Kim loại, nhựa (chai lọ, vỏ lon) |
9,30 |
Nước giải khát, đồ đóng hộp |
| 4 |
Giấy, carton, vải sợi |
6,80 |
Hộp bao gói, khăn giấy, phế liệu |
| 5 |
Gốm, sứ, thủy tinh |
5,70 |
Chai thủy tinh, vật dụng vỡ |
| 6 |
Các thành phần khác |
4,20 |
Rác vô cơ tổng hợp khác |
|
Tổng cộng |
100,00 |
|
- Tác động sinh thái học: Việc du khách tự ý cho cá ăn làm thay đổi tập tính kiếm ăn tự nhiên của quần thể cá suối Lê Nin (tập trung dày đặc ven bờ nơi có người). Tiếng ồn và sự hiện diện của con người khiến các loài thú và chim lớn (khỉ, sóc, chồn) rút sâu vào rừng già, khu vực di tích hiện chỉ còn quan sát được các loài chim nhỏ như chìa vôi, chim chích bông và bói cá.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Tổng kết toàn bộ các kết quả đánh giá về chất lượng môi trường, thực trạng hạ tầng và ô nhiễm rác thải. Đề xuất nhóm giải pháp quản lý kỹ thuật, nâng cao năng lực cho Ban Quản lý di tích, hoàn thiện quy hoạch bãi rác và tăng cường tuyên truyền đối với du khách và cộng đồng địa phương.
Kết quả và đóng góp
Về mặt kết quả số liệu, đề tài đã làm rõ:
- Chất lượng môi trường nước suối Lê Nin trong giai đoạn 2011–2013 đạt tiêu chuẩn nguồn nước mặt loại A2 theo QCVN 08:2008/BTNMT (năm 2013: TSS 3 mg/l, COD 11 mg/l, BOD$_5$ 5,57 mg/l, DO 6,6 mg/l).
- Xác định tỷ lệ biến động sử dụng đất tại xã Trường Hà: giai đoạn 2010–2011 đất công cộng tăng 0,97 ha (đất lúa giảm 0,81 ha); giai đoạn 2012–2013 đất công cộng tăng 1,95 ha (đất lúa giảm 1,06 ha), phục vụ mở rộng hạ tầng du lịch.
- Đo lường định lượng thành phần rác thải với 58,20% chất hữu cơ và 15,80% túi nilon; chỉ ra sự bất cập trong chu kỳ thu gom rác (1–2 lần/tháng) so với tải lượng phát sinh thực tế (trên 3.000 kg rác/ngày vào dịp cao điểm).
Về giải pháp đề xuất, tác giả đưa ra các nhóm khuyến nghị cụ thể:
- Đối với cơ quan quản lý: Tăng tần suất thu gom và vận chuyển rác thải về bãi xử lý tập trung của huyện Hà Quảng; chấm dứt triệt để việc đốt rác thủ công trong thùng và tại các điểm di tích; bố trí thêm thùng rác có nắp đậy và phân loại rác tại nguồn; lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn bảo vệ môi trường, nghiêm cấm xả rác xuống lòng suối và kiểm soát hoạt động cho cá ăn; xử lý gia cố taluy chống sạt lở tại các mặt bằng san lấp.
- Đối với du khách: Nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh chung, bỏ rác đúng nơi quy định, không bẻ cành hái hoa, không làm ồn và không tác động tiêu cực đến sinh cảnh tự nhiên.
- Đối với cộng đồng dân cư: Tích cực tham gia các tổ vệ sinh tự quản, kết hợp kinh doanh dịch vụ ăn uống với thu gom xử lý nước thải, chất thải cục bộ; tham gia nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ 100 ha đất rừng đặc dụng trong phạm vi quản lý của di tích.
Về đóng góp học thuật và thực tiễn:
Khóa luận là công trình đầu tiên tại địa bàn tỉnh Cao Bằng đánh giá chuyên biệt, có định lượng về tác động của hoạt động du lịch tới môi trường sinh thái tại Khu di tích lịch sử Pác Bó. Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Ban Quản lý khu di tích và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng trong việc xây dựng kế hoạch phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn di sản và đa dạng sinh học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi quan trắc môi trường tập trung chủ yếu vào chỉ tiêu nước mặt tại một vị trí (đập tràn suối Lê Nin), chưa thực hiện đo đạc lấy mẫu phân tích độc lập đối với các chỉ tiêu môi trường không khí (bụi, ồn) và môi trường đất tại các bãi đổ đất đá thải.
- Dữ liệu phỏng vấn điều tra xã hội học thực hiện trên cỡ mẫu 90 phiếu (30 cán bộ, 30 hộ dân, 30 khách du lịch), phản ánh được thực trạng nhưng quy mô mẫu còn ở mức trung bình.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng mạng lưới quan trắc môi trường nước mặt tại nhiều vị trí khác nhau dọc lưu vực suối Lê Nin và suối Khuổi Nặm.
- Nghiên cứu định lượng khả năng chịu tải môi trường (carrying capacity) của khu di tích vào các dịp cao điểm để điều tiết lưu lượng khách du lịch phù hợp.
- Đánh giá sâu hơn về mức độ tích lũy kim loại nặng hoặc vi nhựa trong trầm tích và sinh vật thủy sinh tại khu vực di tích.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Quản trị Du lịch và Lữ hành, và Việt Nam học tham khảo về phương pháp đánh giá tác động môi trường du lịch và cấu trúc thực hiện đề tài tốt nghiệp thực địa.
- Cán bộ quản lý tại Ban Quản lý khu di tích Pác Bó, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng và các khu di tích lịch sử có yếu tố cảnh quan tự nhiên trong việc xây dựng phương án thu gom chất thải rắn và bảo vệ đa dạng sinh học.
- Phần đáng tham khảo nhất bao gồm: hệ thống bảng tổng hợp thành phần rác thải, chuỗi số liệu đối chiếu chất lượng nước suối Lê Nin theo QCVN 08:2008/BTNMT và bộ số liệu phân loại 8 hệ sinh thái bảo vệ cảnh quan Pác Bó.
Câu hỏi thường gặp
1. Chất lượng nước mặt suối Lê Nin tại khu di tích Pác Bó được đánh giá như thế nào theo quy chuẩn?
Dựa trên kết quả quan trắc giai đoạn 2011–2013 tại đập tràn suối Lê Nin, toàn bộ các chỉ tiêu lý hóa và vi sinh (năm 2013: pH = 8,04; TSS = 3 mg/l; Fe = 0,02 mg/l; As = 0,00059 mg/l; COD = 11 mg/l; DO = 6,6 mg/l; BOD$_5$ = 5,57 mg/l) đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT (cột A2). Nguồn nước đạt tiêu chuẩn phục vụ cấp nước sinh hoạt (có xử lý phù hợp), bảo tồn thủy sinh và tưới tiêu.
2. Hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch đã can thiệp vào diện tích mặt bằng tự nhiên của khu di tích là bao nhiêu?
Tổng diện tích mặt bằng tự nhiên đã bị san lấp để xây dựng các công trình hạ tầng là hơn 14.000 m². Các hạng mục chính gồm: dự án sàn kè số 1 và 2 (6.500 m²), nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và sân trung tâm (5.000 m²), nhà công vụ (1.000 m²), bãi đỗ xe làng Nhình (1.000 m²) và nhà sinh hoạt cộng đồng (500 m²).
3. Lượng rác thải phát sinh trong những ngày cao điểm tại khu di tích Pác Bó đạt mức nào và thành phần chính là gì?
Vào các đợt cao điểm, khu di tích đón trên 3.000 lượt khách/ngày, với định mức phát sinh trung bình 1 kg rác/khách/ngày, tổng lượng chất thải rắn phát sinh đạt trên 3.000 kg/ngày. Thành phần rác thải gồm 58,20% chất thải hữu cơ, 15,80% nilon, 9,30% kim loại và nhựa, 6,80% giấy/carton/vải sợi, 5,70% gốm/sứ/thủy tinh và 4,20% các thành phần khác.
4. Tần suất thu gom rác tại khu di tích Pác Bó theo phản ánh trong khóa luận có hạn chế gì?
Tần suất thu gom rác chỉ đạt 1 lần/tháng vào các tháng bình thường và 2 lần/tháng vào tháng cao điểm để đưa về bãi rác huyện Hà Quảng. Tần suất này quá thấp so với lượng rác thải thực tế, dẫn đến tình trạng rác ứ đọng và bị công nhân đốt trực tiếp trong thùng rác hoặc tại bãi rác tự phát sau tảng đá gần bàn đá Bác Hồ.
5. Hoạt động tham quan của du khách đã làm thay đổi sinh cảnh động vật tại di tích Pác Bó như thế nào?
Việc cho ăn tùy tiện làm đàn cá suối Lê Nin thay đổi tập tính, chỉ tập trung kiếm ăn ven bờ. Tiếng ồn và sự hiện diện của con người khiến các loài linh trưởng, thú nhỏ và chim rừng (khỉ, sóc, chồn) vốn từng xuất hiện nhiều cách đây 7–10 năm phải di chuyển nơi cư trú vào sâu trong rừng, khu vực trung tâm hiện chỉ còn các loài chim nhỏ như chìa vôi, chích bông và bói cá.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đàm Thị Kiều Chinh đã cung cấp bức tranh toàn diện và khách quan về hiện trạng môi trường sinh thái tại Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Pác Bó năm 2014. Dù chất lượng nước suối Lê Nin vẫn giữ được độ trong sạch đạt chuẩn A2, hoạt động du lịch đã tạo ra những tác động tiêu cực rõ rệt thông qua việc san lấp hơn 14.000 m² mặt bằng, phát sinh trên 3 tấn rác/ngày vào đợt cao điểm và làm xáo trộn tập tính của hệ động vật hoang dã. Các đề xuất quản lý chất thải rắn, kiểm soát du khách và tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương trong công trình là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu phát triển du lịch sinh thái bền vững tại địa phương.