ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Bắc Kạn là một trong những tỉnh nghèo nhất nằm ở trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam, đã và đang được tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ Việt Nam triển khai nhiều dự án phát triển liên quan đến xóa đói giảm nghèo, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu. Trong 5 năm gần đây, Bắc Kạn là một trong những tỉnh bị thiệt hại lớn trong sản xuất Nông Lâm nghiệp do sự xuất hiện của thời hiện tượng tiết khí hậu cực đoan (CARE, 2010) [27]. Do đặc thù là tỉnh miền núi với diện tích đất rừng lớn và phong phú, Bắc Kạn đã và đang có những lợi thế để phát triển mạnh ngành Lâm nghiệp và canh tác trên đất dốc.
Tuy nhiên một thực tế cho thấy rất nhiều vùng hiện nay, người dân canh tác không bền vững, chặt phá rừng, ít chú ý đến tái tạo phát triển rừng, tâm lý của người dân vẫn chỉ chú trọng khai thác các sản phẩm từ rừng (măng, nứa, củi, gỗ, nấm) mà không quan tâm tới việc phát triển bền vững trên đất dốc đã làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh mẽ đã làm cho nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt. Bên cạnh đó, một số cộng đồng đang có những kiến thức canh tác trên đất dốc, tận dụng thế mạnh của nguồn tài nguyên thiên nhiên giúp họ tồn tại và thích ứng với những biến đổi của thời tiết theo thời gian. Trong bối cảnh BĐKH hiện nay và sự gia tăng dân số đang ngày càng tạo áp lực cho rừng và sản xuất Lâm nghiệp, việc phát triển các mô hình canh tác bền vững trên đất dốc dựa vào kinh nghiệm của người dân theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân trên một đơn vị diện tích đất là vấn đề ưu tiên cần giải quyết. Từ thực tế trên em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và một số mô hình cây trồng,biện pháp canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”.
Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích đề tài. - Tìm hiểu những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp của người dân trong vùng nghiên cứu. - Đánh giá hiệu quả của mô hình cây trồng và biện pháp kỹ thuật thích ứng với biến đổi khí hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
2 - Đánh giá sự thay đổi một số chỉ tiêu hóa tính của đất khi áp dụng lồng ghép giữa kiến thức bản địa và kỹ thuật bón phân tiên tiến (bón phân dúi sâu) đến năng suất của cây lúa. Yêu cầu của đề tài - Lấy mẫu , phân tích mẫu, điều tra khảo sát tại địa phương phải đảm bảo số liệu chính xác, khách quan. - Xác định được ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại vùng nghiên cứu: - Đánh giá các mô hình cây trồng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu có tính khả thi cao và phù hợp với điều kiện của địa phương. - Xác định các biện pháp canh tác cây trồng nhằm thích ứng với BĐKH tại địa phương.
Ý nghĩa của đề tài Đối với việc học tập và nghiên cứu: + Nâng cao kĩ năng và kiến thức thông qua các hoạt động thực tế. + Vận dụng được những kiến thức đã được học vào thực tế + Nâng cao khả năng tự học, khả năng tìm kiếm , chọn lọc tài liệu. + Hiểu biết rõ hơn về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Đối với hoạt động thực tiễn: + Xác định các hình thức biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động trồng trọt của người dân và chọn của các mô hình cây trồng thích ứng nhất.
+ Xác định được hiệu quả kinh tế và môi trường khi áp dụng phương pháp bón phân dúi sâu cho cây + Mức giảm lượng NO3 - khi áp dụng phương pháp bón phân dúi sâu cho cây lúa. + Góp phần hoàn thiện qui trình thâm canh lúa giảm thiểu sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Các khái niệm có liên quan: + Biến đổi khí hậu: là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng tới thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người. + Thích ứng với biến đổi khí hậu: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. + Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức bao gồm kiến thức kỹ thuật bản địa và kiến thức địa phương, nhưng được cụ thể hóa trong khía cạnh liên quan đến sinh thái, đến quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên: rừng, đất rừng, nguồn nước. Nó phản ánh những kiến thức kinh nghiệm của từng nhóm cộng đồng đang cùng sinh sống trong từng vùng sinh thái nhân văn, đây là hệ thống kiến thức kết hợp các hiểu biết bên trong lẫn bên ngoài, sự giao thoa kế thừa giữa kinh nghiệm của các dân tộc đang chung sống, sự kiểm nghiệm các kỹ thuật mới du nhập và sự thích ứng nó với điều kiện sinh thái địa phương.
Theo (Johnson, 1992) [24]: “KTBĐ là nhóm tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẻ với thiên nhiên trong một vùng nhất định”, được hình thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hóa và môi trường địa phương, năng động và biến đổi. Vậy KTBĐ là những nhận thức, những hiểu biết về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường lao động và môi trường sinh sống được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cư trú nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của cộng đồng ấy. Nguyên nhân của BĐKH Có hai nguyên nhân chính dẫn đến BĐKH là: do thiên nhiên và do con người. Trong những thập niên gần đây các hoạt động kinh tế - xã hội của con người 4 ngày một phát triển dẫn đến lượng khí thải nhà kính không ngừng tăng lên, cùng với đó việc khai thác các bể hấp thụ khí nhà kính như rừng, hệ sinh thái biển.làm cho hàm lượng các khí nhà kính trong không khí luôn ở mức cao.
Một số loại khí nhà kính điển hình: - CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép. - CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than. - N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
- các chất phá hủy ôzôn. - PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm. - SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê. Hiện nay, Nghị định thư kyoto vẫn là một công cụ hữu hiệu được hầu hết các quốc gia ủng hộ nhằm hạn chế và ổn định các loại khí nhà kính nói trên.
Các hình thức thích ứng của BĐKH. Một cách phân loại thường dùng chia các phương pháp thích nghi ra làm 8 nhóm: - Chấp nhận tổn thất: là phương pháp thích nghi với biểu hiện cơ bản là không làm gì cả ngoại trừ chịu đựng hay chấp nhận tổn thất. - Chia sẻ tổn thất: loại phản ứng này liên quan đến việc chia sẻ những tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn. Với một sự phân bố khác, các xã hội lớn chia sẻ những tổn thất thông qua cứu trợ cộng đồng, phục hồi và tái thiết thông qua viện trợ của cộng đồng.
- Làm giảm sự nguy hiểm: một hiện tượng tự nhiên như là lũ lụt , hạn hán, những phương pháp thích hợp là gồm các công tác kiểm soát lũ lụt. - Ngăn chặn các tác động: thường xuyên sử dụng các phương pháp thích nghi từng bước một để ngăn chặn tác động của BĐKH và sự cố dao động khác. - Thay đổi cách sử dụng: chỗ nào có hiểm họa của BĐKH thực sự tiến triển của các hoạt động kinh tế là không thể hoặc là quá mạo hiểm, sự tính toán có thể mang lại thay đổi và cách sử dụng. - Thay đổi địa điểm: cần nghiên cứu tính toán kỹ việc di chuyển địa điểm sản xuất.
Ví dụ, chuyển các cây trồng chủ chốt và vùng nông trại ra khỏi khu vực khô hạn đến một khu vực ôn hòa hơn. 5 - Nghiên cứu: Quá trình thích nghi có thể phát triển bằng cách nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ mới và phương pháp mới về thích nghi hơn. - Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn đến việc thay đổi hành vi (Nguyễn Hồng Trường, 2008) [18]. Như vậy, sự thích ứng diễn ra cả ở trong tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội của con người.
Thích ứng với BĐKH điều quan trọng chính là sự phù hợp với điều kiện tự nhiên và khả năng kinh tế, phong tục tập quán của con người ở mỗi vùng miền khác nhau. Do đó nghiên cứu ở đây chủ yếu là những hoạt động thực tiễn của nông hộ, những kiến thức bản địa được áp dụng trong điều kiện của vùng nghiên cứu, khu vực nghiên cứu. Các mô hình - cây trồng nhằm thích ứng với BĐKH của địa phương Sản xuất nông nghiệp (SXNN) là ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp của những tác động do thời tiết: Mưa, nắng, gió, bão,… Do vậy, trong bối cảnh BĐKH hiện nay (hạn hán, lũ lụt, rét đậm rét hại) SXNN được đánh giá là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH,[1]. Sản xuất nông nghiệp (SXNN) là ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp của những tác động do thời tiết: Mưa, nắng, gió, bão.
Do vậy, trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay (hạn hán, lũ lụt, rét đậm rét hại) SXNN được đánh giá là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH.