Đảng với Cuộc Vận Động Phụ Nữ Từ Năm 1986 Đến Năm 2009

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vai trò của Đảng trong cuộc vận động phụ nữ giai đoạn 1986-2009, nêu bật những thay đổi và thành tựu.

Chuyên ngành

Lịch Sử Đảng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CUỘC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ TRONG MƯỜI NĂM ĐẦU CỦA THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 – 1996)

1.1. Đảng với cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 1991

1.1.1. Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng

1.1.2. Phong trào phụ nữ

1.2. Cuộc vận động phụ nữ từ năm 1991 đến năm 1996

1.2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

1.2.2. Bước phát triển mới trong phong trào phụ nữ

2. CHƯƠNG 2: CUỘC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ TRONG SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (1996 – 2009)

2.1. Cuộc vận động phụ nữ từ năm 1996 đến năm 2001

2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

2.1.2. Phong trào phụ nữ

2.2. Cuộc vận động phụ nữ trong những năm 2001-2009

2.2.1. Những điều kiện mới và chủ trương của Đảng

2.2.2. Sự phát triển của phong trào phụ nữ

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3.1. Nhận xét chung

3.2. Bài học kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đảng và Cuộc Vận Động Phụ Nữ Việt Nam 1986 2009

Cuộc vận động phụ nữ Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009 diễn ra trong bối cảnh đất nước đang trong quá trình đổi mới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Sự tham gia của phụ nữ không chỉ là một yêu cầu về bình đẳng giới mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Trong giai đoạn này, Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ trong xã hội.

1.1. Lịch sử và bối cảnh của cuộc vận động phụ nữ

Cuộc vận động phụ nữ Việt Nam bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ XX, nhưng từ năm 1986, khi Đảng tiến hành công cuộc đổi mới, phong trào này đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Đảng đã xác định rõ ràng rằng việc giải phóng phụ nữ là một phần không thể thiếu trong công cuộc giải phóng dân tộc và phát triển xã hội.

1.2. Vai trò của Đảng trong cuộc vận động phụ nữ

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng vai trò lãnh đạo quan trọng trong việc tổ chức và phát động các phong trào phụ nữ. Các chính sách của Đảng đã tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, từ đó nâng cao vị thế của họ trong gia đình và cộng đồng.

II. Những thách thức trong cuộc vận động phụ nữ giai đoạn 1986 1996

Trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, cuộc vận động phụ nữ gặp phải nhiều thách thức. Những khó khăn về kinh tế, xã hội đã ảnh hưởng đến khả năng tham gia của phụ nữ trong các hoạt động xã hội. Đảng đã phải đối mặt với nhiều vấn đề như sự phân biệt giới tính, thiếu cơ hội việc làm và sự thiếu hụt trong việc tiếp cận giáo dục.

2.1. Khó khăn về kinh tế và xã hội

Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống của phụ nữ. Nhiều phụ nữ vẫn phải chịu đựng sự phân biệt trong công việc và không có cơ hội phát triển nghề nghiệp.

2.2. Thiếu hụt trong giáo dục và đào tạo

Mặc dù có nhiều chính sách khuyến khích phụ nữ học tập, nhưng thực tế vẫn còn nhiều rào cản. Thiếu hụt về giáo dục và đào tạo đã làm giảm khả năng tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực quan trọng.

III. Phương pháp và giải pháp của Đảng trong cuộc vận động phụ nữ 1996 2009

Đảng đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp để nâng cao hiệu quả của cuộc vận động phụ nữ. Các chính sách đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội và kinh tế.

3.1. Chính sách hỗ trợ phụ nữ trong phát triển kinh tế

Đảng đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và phát triển kinh tế. Các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ tài chính đã giúp phụ nữ có cơ hội tham gia vào thị trường lao động.

3.2. Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức

Đảng đã chú trọng đến việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong cộng đồng. Các chương trình giáo dục đã được triển khai để giúp phụ nữ nhận thức rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

IV. Kết quả và thành tựu của cuộc vận động phụ nữ 1986 2009

Cuộc vận động phụ nữ trong giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội đã được nâng cao. Đảng đã ghi nhận những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển đất nước.

4.1. Sự gia tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động

Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động đã tăng lên đáng kể. Nhiều phụ nữ đã trở thành những doanh nhân thành đạt, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

4.2. Đóng góp của phụ nữ trong chính trị

Phụ nữ đã có nhiều đại diện trong các cơ quan chính quyền và tổ chức chính trị. Điều này không chỉ nâng cao vị thế của phụ nữ mà còn giúp đưa ra những quyết định phù hợp với nhu cầu của cộng đồng.

V. Bài học kinh nghiệm từ cuộc vận động phụ nữ Việt Nam

Những bài học kinh nghiệm từ cuộc vận động phụ nữ trong giai đoạn 1986-2009 có thể được áp dụng cho các phong trào xã hội khác. Việc nhận thức rõ vai trò của phụ nữ và tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động xã hội là rất quan trọng.

5.1. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Các chính sách hỗ trợ phụ nữ cần được thiết kế một cách linh hoạt và phù hợp với thực tế. Điều này sẽ giúp phụ nữ có cơ hội phát triển và khẳng định vị thế của mình trong xã hội.

5.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bình đẳng giới

Cần có các chương trình giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong cộng đồng. Điều này sẽ giúp xóa bỏ các định kiến và rào cản đối với phụ nữ.

VI. Tương lai của cuộc vận động phụ nữ Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, cuộc vận động phụ nữ Việt Nam cần tiếp tục được đẩy mạnh. Đảng cần có những chính sách mới để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của phụ nữ trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

6.1. Định hướng phát triển bền vững cho phụ nữ

Cần xây dựng các chương trình phát triển bền vững cho phụ nữ, giúp họ có thể tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội một cách hiệu quả.

6.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác vận động phụ nữ

Việc hợp tác với các tổ chức quốc tế sẽ giúp Việt Nam học hỏi được nhiều kinh nghiệm và áp dụng các mô hình thành công trong công tác vận động phụ nữ.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng với cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2009

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CUỘC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ TRONG MƯỜI NĂM ĐẦU CỦA THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 – 1996) 1. Đảng với cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 1991 1. Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng Tình hình thế giới Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn diễn ra gay gắt, quyết liệt dưới nhiều hình thức mới. Hệ thống chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng, nhất là cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong quản lý kinh tế đã bộc lộ những khuyết điểm.

Các nước xã hội chủ nghĩa nhận thấy mô hình quản lý đó thiếu tính năng động, làm cho nền kinh tế thiếu động lực để phát triển và xã hội ngày càng khủng hoảng trầm trọng. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ, dẫn đến những biến đổi cơ bản nền chính trị thế giới và quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Mỹ đứng đầu (trật tự hai cực) tan rã, trật tự thế giới mới được hình thành. Các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau để xác lập vai trò, vị thế của mình đối với khu vực và thế giới.

Đa cực hoá chính trị trở thành xu hướng phổ biến của thế giới đương đại. Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, các quốc gia, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, các tổ chức, lực lượng chính trị quốc tế, đều điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với lợi ích mỗi quốc gia và thích ứng với sự phát triển của thế giới. Biểu hiện nổi bật của xu thế điều chỉnh chiến lược là các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ và tự lực tự cường, chủ động tìm kiếm con đường phát triển của mình. Liên Xô phát động công cuộc cải tổ, Trung Quốc thực hiện cải cách 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com song chưa đưa lại hiệu quả, gây nên sự xáo động lớn trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Hơn thế nữa, tình hình thế giới có những thay đổi nhanh chóng, trực tiếp thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá theo xu thế chung là hoà bình, độc lập và phát triển, các nước vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau. Chiến tranh lạnh đã kết thúc nhưng cuộc đấu tranh chống sự áp đặt về chính trị, kinh tế của một số nước đang lớn lên, một số nước đang phát triển; cuộc đấu tranh bảo vệ và tăng cường các giá trị tiến bộ của nhân loại vẫn đang diễn ra dưới nhiều hình thức. Các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nói đến tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh còn là nói đến quá trình phát triển của xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá và sự ra đời của các tổ chức liên minh quốc tế.

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình gia tăng mạnh mẽ của các mối liên hệ, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tác động qua lại giữa các quốc gia, khu vực trên lĩnh vực kinh tế. Trong khi đo, các nước xã hội chủ nghĩa đang đứng trước những thách thức mới của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội hiện thực cũng đang tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng thông qua quá trình biến đổi mang tính bước ngoặt với những tên gọi khác nhau: cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, cải tổ ở Liên Xô.

Trung Quốc đang từng bước triển khai công cuộc cải cách, mở cửa đất nước, Liên Xô và các nước Đông Âu đang gặp rất nhiều khó khăn. Cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn diễn ra gay gắt, quyết liệt dưới nhiều hình thức mới. Trung Quốc và Liên Xô là hai nước có mối liên hệ khăng khít tác động lớn nhất đến Việt Nam. Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc theo hướng thị trường mở cửa bắt đầu từ năm 1978.

Những thành tựu của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm của nhiều nước trong đó có Việt Nam. Đảng và Chính phủ ta quan tâm nhiều đến Trung Quốc bới giữa hai nước có sự tương đồng nhiều mặt về các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội. Mặc dù trong thời gian này quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc rất căng thẳng, chưa được bình thường hoá. Tiếp đó, công cuộc cải tổ không thành công dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và các nước Đông Âu là bài học lịch sử cho ta bài học lớn là không thể cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, giải quyết không biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, tiến hành công cuộc cải tổ một cách vội vàng, thụ động, không khoa học và không có những bước đi thích hợp.

Bên cạnh đó, trong thời gian này, sự thành công của các nước “công nghiệp mới” ở Châu Á và Đông Nam Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo, Thái Lan đã đưa ra những gợi ý hết sức quan trọng về cách thức và giải pháp phát triển đối với các nước xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp và có kiểu quan hệ xã hội văn hoá phương Đông. Động lực để phát triển của các nước này là phát huy nội lực, huy động mọi tiềm năng của đất nước, thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Những biến đổi của tình hình thế giới và xu thế của thời đại đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với nước ta trong thập niên đầu những năm 80 phải thực hiện công cuộc đổi mới. Nhưng vấn đề là ở chỗ “nhân tố chủ quan phải nhận thức kịp thời và tự giác thực hiện đòi hỏi thực tiễn cấp bách đó” [104, tr.

Mặt khác việc lựa chọn con đường, biện pháp, hình thức bước đi của công cuộc đổi mới phải chuẩn xác, hợp lý và khoa học để tránh được những sai lầm có thể xẩy ra. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải tranh thủ, kịp thời những cơ hội và các điều kiện khách quan đang thay đổi của thế giới, của khu vực và những biến đổi trong nước để đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy, đổi mới hành động theo hướng hợp quy luật, để vượt qua những thách thức và không ngừng phát triển. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tình hình trong nước Sau khi hoà bình được lập lại, đất nước thống nhất, nhân dân cả nước dưới ngọn cờ của Đảng xây dựng lại nền kinh tế đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nguyện vọng chính đáng và tất yếu của nhân dân Việt Nam và cũng là nhiệm vụ chính của Đảng, cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như: chiến tranh kéo dài để lại hậu quả nặng nề, nhà nước ta phải hoàn trả lại các khoản nợ mà ta đã vay trong thời gian chiến tranh cùng với sự chống phá chính quyền của ta ở các tỉnh biên giới, thêm vào đó nước ta bị bao vây kinh tế, cấm vận sự giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Mặt khác, trong quá trình thực hiện, lực lượng cán bộ của ta còn thiếu tư duy sáng tạo về kinh tế, nhận thức về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội còn mang tính chủ quan duy ý chí…Những nguyên nhân đó đã đẩy nước ta rơi vào hoàn cảnh khó khăn như: sản xuất tăng chậm, nhiều chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm không đạt được, tài nguyên bị lãng phí, phân phối lưu thông rối ren, tỷ lệ người thất nghiệp cao, chất lượng cuộc sống của người dân rất thấp, các tiêu cực trong xã hội phát triển, nghiêm trọng hơn niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng trong quần chúng nhân dân bị giảm sút. Cuộc tổng cải cách giá - lương - tiền trong năm 1985 do những bước đi sai lầm, nóng vội làm cho nạn lạm phát phi mã, lưu thông vô cùng bế tắc càng làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội thêm nghiêm trọng. Thực trạng trên đặt ra một yêu cầu khách quan và bức thiết là phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, phải có những quyết sách khoa học để ổn định tình hình kinh tế - xã hội đưa đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng để tiến lên.

Đứng trước một thách thức mới đầy cam go của thời đại, Đảng ta phải chứng tỏ năng lực lãnh đạo của mình và điều đó được chứng minh bằng các 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chặng đường đổi mới nền kinh tế bắt đầu từ Đại hội VI và tiếp tục qua các Đại hội sau của Đảng. Thực hiện quá trình đổi mới toàn diện đất nước không phải là đổi mới chế độ xã hội chủ nghĩa mà bằng các phương pháp mới, cách làm mới để tiến tới chủ nghĩa xã hội - một xã hội tốt đẹp mà nhân dân ta mong ước. Đổi mới phải toàn diện và đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đổi mới kinh tế và gắn liền với đổi mới chính trị. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khai mạc ngày 15/12/1986 là điểm mốc đầu tiên đánh dầu quá trình đổi mới của Đảng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ