Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng Lãnh Đạo Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo Từ Năm 2001 Đến Năm 2010

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đảng bộ tỉnh cao bằng lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2012

120
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trước năm 2001

1.2. Công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng trước năm 2001. Chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005

1.2.1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng về xóa đói, giảm nghèo từ 2001 đến 2005

1.2.2. Chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về xóa đói, giảm nghèo

1.2.3. Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh về thực hiện xóa đói, giảm nghèo

1.3. Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh từ năm 2001 đến năm 2005

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

2.1. Chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2010

2.1.1. Chủ trương, sự chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng

2.1.2. Chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về xóa đói, giảm nghèo

2.1.3. Sự chỉ đạo của Tỉnh ủy thực hiện xóa đói, giảm nghèo

2.2. Kết quả và hạn chế

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Một số kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng Trong Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo

Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng đã có những nỗ lực đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010. Trong giai đoạn này, tỉnh đã triển khai nhiều chính sách và chương trình nhằm nâng cao đời sống cho người dân, đặc biệt là các hộ nghèo. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trước năm 2001 gặp nhiều khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo cao và cơ sở hạ tầng còn hạn chế. Tuy nhiên, nhờ sự lãnh đạo của Đảng Bộ, công tác xóa đói giảm nghèo đã có những bước tiến rõ rệt.

1.1. Điều Kiện Tự Nhiên Và Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Cao Bằng

Cao Bằng là tỉnh miền núi với địa hình phức tạp và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, với tỷ lệ hộ nghèo cao. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nhưng tiềm năng phát triển còn lớn. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và phát triển nông nghiệp bền vững là những yếu tố quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo.

1.2. Tình Hình Nghèo Đói Trước Năm 2001

Trước năm 2001, tỷ lệ hộ nghèo ở Cao Bằng lên tới 47,82%. Các xã vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Đời sống của người dân còn nhiều thiếu thốn, đặc biệt là về giáo dục và y tế. Đảng Bộ tỉnh đã nhận thức rõ về tình hình này và bắt đầu triển khai các chính sách xóa đói giảm nghèo.

II. Chính Sách Và Chương Trình Xóa Đói Giảm Nghèo Của Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng 2001 2005

Trong giai đoạn 2001-2005, Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng đã ban hành nhiều chính sách và chương trình cụ thể nhằm xóa đói giảm nghèo. Các chương trình này không chỉ tập trung vào việc hỗ trợ tài chính mà còn chú trọng đến việc nâng cao năng lực sản xuất cho người dân. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc thực hiện các chương trình này là rất quan trọng.

2.1. Các Chương Trình Hỗ Trợ Tài Chính

Đảng Bộ đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo, bao gồm các khoản vay ưu đãi từ ngân hàng và các quỹ hỗ trợ. Những chương trình này đã giúp người dân có thêm nguồn lực để đầu tư vào sản xuất và kinh doanh.

2.2. Nâng Cao Năng Lực Sản Xuất Cho Người Dân

Bên cạnh hỗ trợ tài chính, Đảng Bộ cũng chú trọng đến việc đào tạo nghề và chuyển giao công nghệ cho người dân. Các lớp tập huấn về kỹ thuật canh tác, chăn nuôi đã được tổ chức, giúp người dân nâng cao năng suất lao động và cải thiện đời sống.

III. Kết Quả Lãnh Đạo Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo Từ 2001 Đến 2005

Kết quả của công tác xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 47,82% xuống còn 23%. Những thành công này không chỉ nhờ vào các chính sách của Đảng Bộ mà còn nhờ vào sự nỗ lực của toàn thể nhân dân.

3.1. Tỷ Lệ Giảm Nghèo Đáng Kể

Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh, cho thấy sự hiệu quả của các chương trình xóa đói giảm nghèo. Sự thay đổi này đã mang lại niềm tin cho người dân và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động sản xuất.

3.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm

Qua quá trình thực hiện, Đảng Bộ đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác lãnh đạo xóa đói giảm nghèo. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định đến thành công.

IV. Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng Lãnh Đạo Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo 2006 2010

Giai đoạn 2006-2010, Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo với nhiều chính sách mới. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua.

4.1. Chính Sách Mới Được Triển Khai

Đảng Bộ đã ban hành nhiều chính sách mới nhằm hỗ trợ các hộ nghèo, bao gồm các chương trình phát triển kinh tế xã hội và các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng. Những chính sách này đã góp phần cải thiện đời sống cho người dân.

4.2. Thách Thức Trong Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng công tác xóa đói giảm nghèo vẫn gặp nhiều thách thức. Tình trạng nghèo đói vẫn còn tồn tại ở nhiều vùng, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa. Cần có những giải pháp đồng bộ hơn để giải quyết triệt để vấn đề này.

V. Kết Luận Và Định Hướng Tương Lai Trong Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo

Công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng Bộ Tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến 2010 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác này, cần có những định hướng rõ ràng cho tương lai.

5.1. Định Hướng Chiến Lược Trong Tương Lai

Đảng Bộ cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, tập trung vào việc phát triển bền vững và nâng cao năng lực cho người dân. Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội cũng cần được khuyến khích.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo

Công tác xóa đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Sự đồng lòng và nỗ lực của mọi tầng lớp nhân dân sẽ là yếu tố quyết định đến thành công của công tác này.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh cao bằng lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trước năm 2001 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng *Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý, Cao Bằng là tỉnh miền núi, vùng cao biên giới, phía Đông Bắc của tổ quốc. Nằm ở tọa độ địa lý 22o22’ - 23o07’ vĩ Bắc, 105o40’ - 106o40’ kinh Đông.

Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc, có đường biên giới dài 311 km2. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn. Tỉnh Cao Bằng có 12 huyện, 01 thị xã với 189 xã, phường, thị trấn. Diện tích tự nhiên là 6.690,72km2 chiếm 2,12% diện tích tự nhiên của cả nước.

Có 3 cửa khẩu (Tà Lùng, Hùng Quốc, Sóc Hà) là lợi thế quan trọng tạo cho Cao Bằng điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế với nước ngoài, nhất là với Trung Quốc. Cao Bằng là tỉnh nằm sâu trong nội địa, xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đông Bắc và cả nước (Thị xã Cao Bằng cách thủ đô Hà Nội 286 km theo Quốc lộ 3), giao lưu chỉ có duy nhất theo đường bộ. Do hạn chế về điều kiện giao thông nên việc giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh, các vùng trong cả nước còn nhiều khó khăn. Về địa hình, địa hình tỉnh Cao Bằng chia cắt mạnh và phức tạp hình thành 4 tiểu vùng kinh tế sinh thái: Tiểu vùng đá vôi ở phía Bắc và Đông Bắc chiếm 32% diện tích tự nhiên của tỉnh, phần lớn nằm dọc biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Bảo lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Uyên, Phục Hòa, Thạch An.

Đặc trưng chủ yếu là xen kẽ giữa các dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp, thiếu nước về mùa khô, độ cao trung bình 700 - 1000m. Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: ngô, đỗ tương, dược liệu, khoáng sản. Tiểu vùng núi đất ở phía Tây và Tây Nam chiếm 18% diện tích tự nhiên của cả tỉnh thuộc các huyện Bảo Lạc và Nguyên Bình. Đặc trưng chủ yếu là địa hình chia cắt mạnh, dốc lớn, độ cao trung bình 700 - 1100m.

Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, khoáng sản. Tiểu vùng núi đất thuộc thượng nguồn sông Hiến chiếm 38% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đặc trưng chủ yếu là thoải dần xuống bồn địa Cao Bằng, địa hình vẫn còn chia cắt mạnh, độ dốc vẫn còn lớn, xen kẽ giữa các dãy núi cao là những thung lũng hẹp, độ cao trung bình 200 - 600m. Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: chăn nuôi và lâm nghiệp.

Tiểu vùng bồn địa thị xã Cao Bằng và huyện Hòa An dọc sông Bằng chiếm 12% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đây là vùng trồng lúa nước lớn nhất của tỉnh. Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: lúa, thuốc lá, thủy sản. Về khí hậu, Cao Bằng có khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao (khí hậu Châu Á nhiệt đới) thể hiện 4 mùa trong năm nhưng rõ rệt nhất là mùa hè và mùa đông, biên độ nhiệt thay đổi lớn, lượng mưa ít và phân bố không đều.

Mưa, bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 với lượng mưa trung bình hàng năm 1. Vùng mưa nhiều gồm các huyện Nguyên Bình, bắc Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hạ Lang là 1.900mm; vùng mưa trung bình: Hòa An, nam Hà Quảng, Trùng Khánh là 1. Các hiện tượng gió lốc, gió bấc, tuyết rơi, sương muối, mưa đá xảy ra thường xuyên. Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất 350oC, thấp nhất 0oC.

Hàng năm có 3 tháng mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8) nhiệt độ trung bình là 30 - 34oC; tháng nóng nhất là tháng 7; mùa đông, nhiệt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ trung bình là 5 - 6oC, tháng lạnh nhất là tháng 1. Tần suất sương muối thường xảy ra vào tháng 1 và tháng 2. Với đặc điểm khí hậu đặc thù, đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây con phong phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản như dẻ hạt, hồng không hạt, đậu tương có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng…mà nhiều nơi khác không có điều kiện phát triển Về nguồn lao động: theo tổng điều tra dân số 1/4/1999, dân số Cao Bằng có 490.335 người, trong đó có 421.999 người sống ở nông thôn, chiếm 86,06% tổng dân số; gồm có các dân tộc chủ yếu sau: dân tộc Tày 208.822 người, chiếm 42,58%; dân tộc Nùng 161.134 người, chiếm 32,86%; dân tộc Dao 47.218 người, chiếm 9,63%; dân tộc Mông 41.437 người, chiếm 8,45; dân tộc Kinh 22.956 người, chiếm 4,68%. Ngoài ra là các dân tộc: Sán Chỉ, Lô Lô, Hoa, Mường, Thái, người nước ngoài và một số ít dân tộc khác.

Dân số từ 13 tuổi có 335.746 người, chiếm 68,47%, trong đó có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 36.670 người chiếm 10,92%. Trong số này số người có trình độ Cao Đẳng và Đại học là 7.306 người, chiếm 2,76%. Lao động nông - lâm - nghiệp chiếm 79%. Như vậy, lực lượng lao động đã qua đào tạo mới chỉ chiếm khoảng 15,1% tổng số lao động, thấp hơn nhiều so với trung bình của cả nước (22%), còn thiếu lao động có kỹ thuật và tay nghề cao, hệ số sử dụng lao động ở nông thôn mới đạt khoảng trên 70%, năng suất lao động thấp.

Về tài nguyên đất, Cao Bằng có 598.735,1 ha đất nông - lâm nghiệp, chiếm 89,1% diện tích đất tự nhiên. Trong đó đất nông nghiệp truyền thống có diện tích trên 85,3 nghìn ha (chiếm 12,5%), đất lâm nghiệp gần 514,9 nghìn ha (chiếm 76,6%), đất nuôi trồng thủy sản là 313,33 ha (chiếm 0,05%). Hệ số sử dụng đất đạt 1,3 lần. Đất phi Nông nghiệp chiếm 3, 18% diện tích đất tự nhiên (khoảng 21.340,7 ha), bao gồm đất thổ cư, đất dành cho công trình hạ tầng và quốc phòng – an ninh.

Ngoài ra, Cao Bằng còn có 51.880 ha 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc, với diện tích đất phù sa, bằng phẳng, tuy chỉ chiếm 10% diện tích tự nhiên toàn tỉnh nhưng cũng có những cánh đồng nhỏ, mầu mỡ dọc theo triền các dòng sông, hoặc trên những thung lũng như: Sóc Hà, Đôn Chương, Phù Ngọc, Đồng Mu, Bó Bạch, Thạch Bình, Cổ Nông, Thông Huề, Pò Tấu, Tiên Thành…mà trong số đó lớn nhất là cánh đồng của huyện Hòa An trải dài trên 20km, đất đai phì nhiêu, tiện lợi canh tác, vì thế những nơi này dân cư rất đông đúc và có cuộc sống sung túc hơn. Về tài nguyên rừng, thế mạnh của tỉnh Cao Bằng trước hết là rừng và đất rừng, tỷ lệ che phủ rừng năm 2001 có quy mô là 286.363 ha, trong đó rừng tự nhiên là 271. Rừng của Cao Bằng có giá trị kinh tế cao với nguồn lâm thổ sản phong phú, trong đó phải kể đến các loại: Sa Nhân, Mộc Nhĩ, Nấm Hương, Cánh Kiến…và các loại hạt có dầu (Trẩu, Sở, Lạc…) các cây dược liệu, thuốc bổ đông y quý hiếm như Nhân Sâm, Tam Thất, Ngũ Gia Bì…Trong rừng còn có nhiều Mây, Song và nhiều loại gỗ quý như Trai, Nghiến, Lim, Lát, Đinh, Dổi…Đây là một trong những lợi thế tiềm năng của Cao Bằng. Về tài nguyên khoáng sản, Cao Bằng là một trong những tỉnh miền núi có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, trong đó có những khoáng sản có tiềm năng lớn, giá trị kinh tế cao, đã và đang được khai thác phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Qua khảo sát, có tới 150 điểm mỏ với 22 loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn và chất lượng tốt như mỏ Quặng sắt (Nà Lủng - thị xã); Thiếc (Tĩnh Túc - Nguyên Bình); Măng Gan (Trà Lĩnh, Trùng Khánh)… Đáng kể nhất là Sắt trữ lượng khoảng 60 triệu tấn, Bôxít trữ lượng khoảng 180 triệu tấn, Măng Gan trữ lượng khoảng 2,7 triệu tấn, Thiếc trữ lượng khoảng 11,5 nghìn tấn. Ngoài ra còn có Vàng, Đồng, Niken, Chì, Urani, Berili, Barit, Fluorit, Photphorit, đá quý Rupi, Saphia…có thể khai thác trong vài chục năm tới; đá Vôi có trữ lượng hàng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngàn triệu tấn, có nhiều công dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành công nghiệp trong tương lai. Như vậy, với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và những nguồn tài nguyên sẵn có, Cao Bằng có những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tạo những thuận lợi nhất định trong công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh.

Song điều kiện tự nhiên của Cao Bằng cũng gây nên những khó khăn nhất định trong công tác xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là đối với các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh. *Điều kiện kinh tế - xã hội Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, Cao Bằng có nhiều thuận lợi nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội với cơ cấu ngành nghề đa dạng. Về nông - lâm nghiệp: Cao Bằng có gần 95.000 ha (chiếm 14,12% đất tự nhiên toàn tỉnh) đất dành cho sản xuất nông nghiệp, trên 534.000 ha (trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh) đất lâm nghiệp có rừng và trên 400 ha đất nuôi trồng thủy sản. Là một tỉnh biên giới, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khắc nghiệt song ngành nông nghiệp của Cao Bằng vẫn khá phát triển.

Giá trị sản xuất của ngành liên tục tăng qua các năm. Cơ cấu ngành nông nghiệp chia thành 3 ngành chính là trồng trọt (chiếm trên 65% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp), chăn nuôi (chiếm trên 30%) và dịch vụ (dưới 5%). Cây trồng chủ yếu của tỉnh gồm các cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn); cây công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá); cây ăn quả (lê, mận, cam, hạt dẻ); cây rau, đậu và gia vị; và cây công nghiệp (chè đắng). Ngành chăn nuôi của Cao Bằng tập trung vào các loại gia súc lớn như trâu, bò, ngựa; gia súc nhỏ như lợn, dê, và các loại gia cầm.

Cao Bằng có 2 giống bò địa phương là bò Cỏ và bò U H’Mông, trong đó bò U H’Mông có trọng lượng lớn, chất lượng tốt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ