Tổng quan nghiên cứu
Công tác xóa đói giảm nghèo là một trong những quyết sách chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước. Tại tỉnh Thanh Hóa – địa phương có quy mô diện tích tự nhiên rộng lớn 11.133,4 km2 và dân số năm 2005 đạt khoảng 3,4 triệu người (đứng thứ ba cả nước) – vấn đề giải quyết đói nghèo mang tính cấp bách đặc biệt. Địa bàn tỉnh mang đặc trưng "tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với 3/4 diện tích là đồi núi, địa hình chia cắt phức tạp và thường xuyên chịu ảnh hưởng khắc nghiệt của thiên tai, bão lũ. Vào đầu thập niên 1990, tỷ lệ thiếu đói tại Thanh Hóa ở mức khoảng 15%, cao hơn mức bình quân 10% của cả nước, đặt ra thách thức nặng nề cho sự ổn định chính trị và phát triển xã hội.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương để lãnh đạo, chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 1991 đến năm 2005. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy, phân tích các giải pháp triển khai thực tiễn trên địa bàn 24 huyện, 1 thành phố và 2 thị xã; đồng thời đánh giá những thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi chứng minh sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng bộ tỉnh đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 9,1%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005, góp phần hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 23,56% năm 1993 xuống còn 10,56% vào cuối năm 2005, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội, giải phóng sức sản xuất và mục tiêu "làm cho người nghèo đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu". Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên quan điểm Đại hội VII (năm 1991) và Đại hội VIII (năm 1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Hệ thống lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và mô hình giảm nghèo đa chiều cũng được tích hợp nhằm soi chiếu thực tiễn địa phương.
Các khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu bao gồm: chuẩn nghèo theo chuẩn quốc gia qua từng thời kỳ (giai đoạn 1993 - 1995 tính mức thu nhập dưới 15 - 20 kg gạo/người/tháng; giai đoạn 1997 - 2000 tương đương 55.000 - 70.000 đồng/người/tháng), tín dụng chính sách xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác từ các văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX của Đảng; hệ thống Nghị quyết của Tỉnh ủy Thanh Hóa từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (tháng 4/1991) đến lần thứ XIV (tháng 5/1996); các văn bản chỉ đạo như Nghị quyết 04-NQ/TU (năm 1992), Nghị quyết 04-NQ/TU (năm 1998), Nghị quyết 07-NQ/TU và Nghị quyết 08-NQ/TU (năm 1999). Dữ liệu định lượng được tổng hợp từ báo cáo chính thức của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa và tư liệu lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo. Việc lựa chọn phương pháp lịch sử giúp tái hiện chân thực, liên tục tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua 15 năm (1991 - 2005) trong bối cảnh đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phương pháp logic giúp khái quát hóa, tìm ra bản chất của các quyết sách và mối quan hệ nhân quả giữa chủ trương với kết quả thực tiễn.
Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê và so sánh đối chiếu trên cỡ mẫu toàn diện gồm 625 xã, phường, thị trấn qua cuộc tổng điều tra năm 1996, cùng mẫu phân tích nguyên nhân đói nghèo năm 1994 (chia thành 7 nhóm nguyên nhân chính). Việc kết hợp đa phương pháp giúp đảm bảo tính khách quan, khoa học và độ tin cậy cao cho các luận điểm khoa học.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tỷ lệ đói nghèo tại Thanh Hóa giảm sâu và vượt chỉ tiêu đề ra qua từng giai đoạn. Theo số liệu khảo sát, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm liên tục từ 23,56% năm 1993 xuống còn 20,50% năm 1997, tiếp tục hạ xuống 13,72% năm 2000 và chỉ còn khoảng 10,56% vào cuối năm 2005. Đặc biệt, tình trạng hộ đói gay gắt (chiếm 6,51% năm 1993) đã cơ bản được xóa bỏ hoàn toàn vào năm 2000. Tỷ lệ hộ nghèo diện chính sách giảm từ 10.603 hộ năm 1996 xuống mức không còn hộ đói vào năm 2000.
Thứ hai, công tác xóa đói giảm nghèo gắn liền với bước chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng nông - lâm - thủy sản trong GDP của tỉnh giảm mạnh từ 51,6% năm 1990 xuống còn 39,9% năm 2000 và 31,6% năm 2005. Ngược lại, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng nhanh từ 17,8% (năm 1990) lên 26,4% (năm 2000) và đạt 35,1% (năm 2005). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,8%/năm trong giai đoạn 1991 - 2000 và bứt phá lên 9,1%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005, cao hơn mức bình quân chung cả nước (7,3%/năm).
Thứ ba, nguồn vốn tín dụng ưu đãi và hạ tầng cơ sở được mở rộng mạnh mẽ. Tổng nguồn vốn tín dụng cho người nghèo vay tăng từ 86,7 tỷ đồng năm 1996 lên 240,6 tỷ đồng năm 2000. Đến cuối năm 2000, có 140.000 hộ nghèo được tiếp cận vốn vay ưu đãi với dư nợ 237,5 tỷ đồng, mức vay bình quân tăng từ 0,97 triệu đồng lên 1,7 triệu đồng/hộ. Thông qua Chương trình 135, trong hai năm 1999 - 2000, tỉnh đã đầu tư 43,55 tỷ đồng xây dựng mới 94 công trình hạ tầng thiết yếu tại 82 xã đặc biệt khó khăn; chương trình trung tâm cụm xã đầu tư 29,81 tỷ đồng xây dựng 70 công trình tại 11 cụm kinh tế - xã hội.
Thứ tư, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội đã phát huy vai trò nòng cốt. Hội Phụ nữ tỉnh thành lập 5.237 tổ tiết kiệm, quản lý nguồn vốn trên 90 tỷ đồng cho hơn 216.000 lượt hội viên vay. Hội Cựu chiến binh huy động 31,452 tỷ đồng, phát triển 4.267 mô hình trang trại quy mô từ 5 đến 50 ha, tạo việc làm cho 93.424 lao động và hạ tỷ lệ nghèo trong hội viên từ 20,8% (năm 1995) xuống 11% (năm 1999). Hội Nông dân tỉnh vận động Quỹ hỗ trợ nông dân đạt trên 3 tỷ đồng và thực hiện bảo lãnh tín chấp trên 51 tỷ đồng mỗi năm.
Thảo luận kết quả
Thành công của Thanh Hóa bắt nguồn từ việc Đảng bộ tỉnh phân tích chính xác căn nguyên nghèo đói theo số liệu điều tra năm 1994: 28% do độc nghề dẫn đến thiếu việc làm, 25% do thiếu tư liệu sản xuất, 21% do thiếu vốn và 14% do gia đình đông con hoặc tàn tật. Nhờ xác định rõ nguyên nhân, Tỉnh ủy đã ban hành các nghị quyết chuyên đề trúng và đúng, nổi bật là Nghị quyết 07 về kinh tế trang trại và Nghị quyết 08 về kinh tế biển.
Khi so sánh với bình diện cả nước, tỷ lệ nghèo của cả nước giảm từ 30,01% năm 1992 xuống 11% năm 2000. Mặc dù tỷ lệ nghèo của Thanh Hóa luôn ở mức cao hơn mức trung bình toàn quốc do điểm xuất phát thấp và địa bàn miền núi chiếm tới 11 huyện, nhưng tốc độ giảm nghèo bình quân đạt 2%/năm là kết quả rất ấn tượng. Các dữ liệu này phản ánh rõ nét qua các bảng thống kê cơ cấu GDP ba khu vực kinh tế và biểu đồ diễn biến tỷ lệ hộ nghèo qua 8 mốc năm liên tục từ 1993 đến 2000 trong báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo giai đoạn này vẫn bộc lộ hạn chế: nguy cơ tái nghèo còn cao sau thiên tai, chất lượng lao động qua đào tạo năm 2005 mới chỉ đạt 27% (trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%), và khoảng cách giàu nghèo giữa miền xuôi với 105 xã vùng cao vẫn còn chênh lệch đáng kể.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp và nhân rộng mô hình kinh tế trang trại hàng hóa. Tỉnh ủy và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tiếp tục chỉ đạo chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như mía đường (mục tiêu duy trì trên 29.500 ha), cà phê, cây ăn quả và đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn tiếp theo cần phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị nông nghiệp xuống dưới 25% trong cơ cấu GDP nhưng nâng cao giá trị thu nhập trên từng hecta canh tác.
Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn vốn tín dụng chính sách gắn với chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể nâng mức cho vay bình quân lên trên 5 triệu đồng/hộ, đảm bảo 100% hộ vay vốn nghèo được tham gia các lớp tập huấn khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Cơ quan quản lý cần kiểm soát chặt chẽ quy trình bình xét, tránh tình trạng giải ngân sai đối tượng hoặc để phát sinh nợ quá hạn.
Thứ ba, hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng tại các huyện miền núi đặc biệt khó khăn. Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Dân tộc miền núi cần ưu tiên phân bổ nguồn ngân sách từ 50 đến 60 tỷ đồng mỗi năm từ Chương trình 135 để kiên cố hóa hệ thống giao thông liên xã, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng các xã bị cô lập vào mùa mưa bão, đặc biệt tại các huyện vùng cao biên giới như Mường Lát và Quan Sơn. Đồng thời, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố từ mức 56% năm 2005 lên trên 80% trong vòng 5 năm tới.
Thứ tư, tăng cường phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các cấp hội tiếp tục nhân rộng mô hình giúp nhau lập nghiệp không lấy lãi, duy trì mức tăng trưởng quỹ hội tự huy động từ 15% đến 20%/năm. Cần gắn chặt phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi với cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, tạo động lực nội sinh để người dân tự vươn lên thoát nghèo bền vững.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện. Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn giá trị về phương thức ban hành nghị quyết chuyên đề, kinh nghiệm quản lý nguồn vốn tín dụng trên 240,6 tỷ đồng và giải pháp chỉ đạo điểm tại 16 xã diện mẫu trước khi nhân rộng ra 625 xã, phường trên toàn địa bàn.
Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử kinh tế và Quản lý công. Tài liệu này đóng vai trò là công trình nghiên cứu chuyên khảo có cấu trúc khoa học, chứa đựng chuỗi số liệu kinh tế - xã hội phong phú giai đoạn 1991 - 2005 cùng phương pháp tiếp cận đa chiều về tiến trình phát triển của một Đảng bộ địa phương lớn.
Thứ ba, cán bộ chuyên trách công tác phong trào thuộc Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên. Các tổ chức đoàn thể có thể ứng dụng các bài học thành công từ mô hình 5.237 tổ phụ nữ tiết kiệm và hệ thống 4.267 trang trại cựu chiến binh vào thực tiễn chỉ đạo phong trào xóa đói giảm nghèo tại cơ sở.
Thứ tư, các chuyên gia phát triển cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ. Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực về case study quản trị chương trình mục tiêu quốc gia (Chương trình 133, Chương trình 135) tại một tỉnh có quy mô dân số lớn 3,4 triệu người với sự đa dạng sâu sắc về địa hình và dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
Bước ngoặt lớn nhất trong chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 1991 - 2005 là gì? Bước ngoặt quyết định là việc Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 13/5/1998, chính thức gắn công tác giảm nghèo với chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn diện và huy động sức mạnh toàn dân. Quyết sách này đã mở đường cho việc huy động trên 240 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi, giúp giảm tỷ lệ nghèo từ 23,77% năm 1996 xuống còn 13,72% năm 2000.
Đâu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đói nghèo tại tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn đầu đổi mới? Theo điều tra của Cục Thống kê tỉnh năm 1994, 28% hộ nghèo do tình trạng độc canh cây lúa dẫn đến thiếu việc làm mùa vụ, 25% thiếu tư liệu sản xuất và 21% thiếu vốn kinh doanh. Ngoài ra, địa hình miền núi chiếm 2/3 diện tích với mật độ dân cư rất thưa thớt như Mường Lát chỉ 30 người/km2 đã tạo ra rào cản lớn cho giao thương.
Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội đóng góp như thế nào vào thành công xóa đói giảm nghèo của tỉnh? Các đoàn thể đã tạo ra mạng lưới hỗ trợ rộng khắp, tiêu biểu là Hội Phụ nữ thành lập 5.237 tổ tiết kiệm và quản lý trên 90 tỷ đồng cho 216.000 lượt hội viên vay. Hội Nông dân bảo lãnh tín chấp trên 51 tỷ đồng mỗi năm, còn Hội Cựu chiến binh huy động 31,452 tỷ đồng và giải quyết việc làm cho 93.424 lao động.
Hiệu quả của Chương trình 135 tại các xã vùng cao biên giới Thanh Hóa được chứng minh qua con số nào? Trong hai năm 1999 - 2000, Chương trình 135 đã giải ngân 43,55 tỷ đồng để hoàn thành 94 công trình hạ tầng thiết yếu tại 82 xã đặc biệt khó khăn. Nguồn lực này góp phần hạ nhanh tỷ lệ nghèo tại các huyện vùng cao biên giới như Mường Lát, Quan Hóa từ mức trên 60% năm 1996 xuống dưới 40% năm 2000.
Bài học kinh nghiệm cốt lõi nào từ Thanh Hóa có thể chuyển giao cho các địa phương khác? Bài học lớn nhất là phân loại chính xác nguyên nhân nghèo của từng nhóm đối tượng để thiết kế các chính sách hỗ trợ trúng đích (vốn vay, đất sản xuất, đào tạo nghề). Việc kết hợp chặt chẽ giữa trợ lực của Nhà nước với tinh thần tự lực của nhân dân giúp duy trì tăng trưởng GDP 9,1%/năm và đảm bảo giảm nghèo thực chất.
Kết luận
- Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện và năng động, đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 23,56% năm 1993 xuống còn 10,56% vào cuối năm 2005.
- Cơ cấu kinh tế địa phương chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 17,8% lên 35,1% và xác lập tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 9,1%/năm giai đoạn 2001 - 2005.
- Toàn tỉnh đã huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính với hơn 240,6 tỷ đồng vốn tín dụng chính sách, hỗ trợ trực tiếp cho 140.000 lượt hộ nghèo phát triển sản xuất.
- Kết cấu hạ tầng nông thôn và miền núi được nâng cấp rõ rệt thông qua 94 công trình thuộc Chương trình 135 và 70 hạng mục trung tâm cụm xã, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền.
- Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đã đúc rút được những bài học kinh nghiệm quý báu về quản lý nguồn lực, phân loại đối tượng và phát huy nội lực quần chúng.
Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong công tác xóa đói giảm nghèo suốt giai đoạn lịch sử 1991 - 2005. Nghiên cứu khẳng định đây là tiền đề then chốt để tỉnh bước vào giai đoạn 2006 - 2010 với mục tiêu chuyển từ giảm nghèo đơn chiều sang nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (khi tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2005 mới đạt 27%). Độc giả, các nhà nghiên cứu lịch sử và các nhà quản lý thực tiễn hãy tham khảo toàn văn công trình này để khai thác sâu sắc các bài học lịch sử phục vụ cho sự nghiệp an sinh xã hội và phát triển bền vững hiện nay.