Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TĨNH VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP (2010 - 2015) 1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về phát triển công nghiệp 1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về phát triển công nghiệp * Tình hình thế giới và trong nước Tình hình thế giới: Giai đoạn 2010 - 2015, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Trong đó, đáng chú ý là kinh tế thế giới phục hồi chậm, tình trạng khủng hoảng chính trị diễn ra ở nhiều nước; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục là xu thế lớn, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho các quốc gia sau khủng hoảng.
Trong bối cảnh đó, phát triển công nghiệp được xem là một trong những khâu then chốt để khôi phục lại nền kinh tế, ổn định đời sống xã hội. Đặc biệt, dưới tác động mạnh mẽ của xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa, các nước tập trung đẩy mạnh triển khai các chiến lược hợp tác về kinh tế trên nhiều lĩnh vực, mở rộng thị trường quốc tế, buôn bán, lưu thông hàng hóa, giảm bớt sức ép về thuế. Hội nhập kinh tế, hợp tác và phát triển góp phần quan trọng thúc đẩy các nhân tố sản xuất, như: vốn, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nguồn nhân lực, hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu. tạo động lực công nghiệp phát triển, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm hàng hóa của các nước.
Vì vậy, tham gia quá trình sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu của các quốc gia, dân tộc. Đây vừa là cơ hội, nhưng cũng là thách thức lớn, đặc biệt là vấn đề thị trường và sức ép cạnh tranh từ các nước có nền kinh tế phát triển. Do đó, vấn đề đặt ra đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cần phải tranh thủ thời cơ, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các ngành kinh tế, đặc biệt là đẩy 15 nhanh quá trình CNH, HĐH, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển, từng bước khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế, ổn định, phát triển, nâng cao đời sống nhân dân. Đặc biệt, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh, đã thúc đẩy quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất trên thế giới, trực tiếp tác động đến các ngành công nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh theo hướng liên kết chuỗi giá trị, hình thành các khu, CCN sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Phát triển công nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ cao theo hướng hiện đại, bền vững đã trở thành xu thế của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tình hình trong nước: Thực hiện Chiến lược phát triển KT-XH (10 năm 2001 - 2010), Việt Nam đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm (2006 - 2010) đạt 7%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. “Tỷ trọng khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP từ 41% (năm 2005) tăng lên 41,1% (năm 2010)” [30, tr. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tạo động lực lớn cho sản xuất công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, nhanh, bền vững; từng bước cải thiện, nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, tình hình KT - XH của Việt Nam vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như “kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng” [30, tr.165], tác động ảnh hướng lớn đến quá trình phát triển các ngành kinh tế trọng điểm của đất nước, trong đó có ngành công nghiệp.
Mặc dù, công nghiệp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song công nghiệp phát triển chủ yếu vẫn dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên khoáng sản, nguồn viện trợ của nước ngoài; chất lượng và 16 giá trị sản phẩm còn thấp, giá trị tăng thêm không lớn; chưa có chỗ đứng trên thị trường quốc tế, sản phẩm công nghiệp, sức cạnh tranh doanh nghiệp còn hạn chế, công nghệ còn lạc hậu. Có thể thấy, những yếu tố của tình hình thế giới, trong nước đã tác động trực tiếp đến việc phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2015. Về thuận lợi, đó là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, đặc biệt cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển, kinh tế đất nước có sự phục hồi… Tuy nhiên, quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2015 cũng chịu ảnh hưởng của những khó khăn, thách thức từ tình hình thế giới và trong nước, như: thị trường xuất khẩu hàng hóa vẫn lệ thuộc vào thị trường của các nước lớn, các tổ chức kinh tế thế giới; sản phẩm công nghiệp chủ yếu chế biến thô, hàm lượng khoa học thấp, sức cạnh tranh còn hạn chế; hệ thống pháp luật, thể chế, cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập so với luật pháp quốc tế. Do đó, cần nhận thức đúng những thuận lợi, khó khăn để có chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả là vấn đề cần thiết trong quá trình lãnh đạo phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Tĩnh.
* Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghiệp Chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp Xuất phát từ vị trí, vai trò của công nghiệp trong quá trình phát triển KT-XH của đất nước, tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp trong giai đoạn trước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011), xác định: Về phương hướng: Phát triển mạnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thuộc các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, chế biến, công nghiệp năng lượng, luyện kim, hóa chất, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông. Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ 17 nông nghiệp, nông thôn [30, tr. Đây là sự kế thừa và phát triển chủ trương của Đảng về công nghiệp trong giai đoạn trước, Nghị quyết Đại hội XI khẳng định công nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đồng thời phát triển công nghiệp theo hướng sản xuất hiện đại, bền vững là vấn đề mang tính chiến lược đối với nước ta.
Trong giai đoạn 2010-2015, Đại hội XI cũng xác định phát triển công nghiệp một cách toàn diện, phát huy tốt tiềm năng, lợi thế giữa các vùng, miền, địa phương, các loại hình sản xuất, kinh doanh, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp Việt Nam. Đây là hướng đi đúng đắn trong điều kiện nền kinh tế đất nước đang từng bước phục hồi sau khủng hoảng kinh tế - tài chính, do đó công nghiệp ngày càng khẳng định được vai trò đầu tàu của nền kinh tế nước ta. Về mục tiêu: Đại hội lần thứ XI (2011) của Đảng xác định: Phấn đấu giá trị gia tăng công nghiệp bình quân 5 năm tăng 7,8 - 8%/năm [30, tr. Về nhiệm vụ và giải pháp Một là, phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng cho một nước công nghiệp Đại hội XI xác định: Phát triển mạnh công nghiệp và phát triển hợp lý công nghiệp sử dụng nhiều lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động [30, tr.194]; đồng thời, ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất trang thiết bị, máy móc làm đất, thu hoạch, bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản.
Hai là, cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành có nền tảng, có lợi thế so sánh Đại hội XI chỉ rõ: “Ưu tiên phát triển và hoàn thành những công trình then chốt về cơ khí chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị nhập khẩu cho công nghiệp; công nghiệp công nghệ cao, sản xuất linh kiện điện tử; công nghiệp dầu khí, điện than, khai khoáng, luyện thép, công nghiệp hỗ trợ” [30, tr. Đồng thời, Nghị quyết khẳng định: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; 18 phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao” [30, tr. Ba là, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ hiện đại vào phát triển công nghiệp Đại hội XI nhấn mạnh: “Phát triển năng lực, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, nhất là các máy điều khiển kỹ thuật số, có khả năng xuất khẩu, nhanh chóng hình thành một số viện công nghệ công nghiệp” [30, tr. Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, ngày 16/01/2012, BCHTW Đảng ra Nghị quyết số 13-NQ/TW Về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Nghị quyết xác định: “Quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải hiện đại, đồng bộ trên phạm vi cả nước, từng ngành, từng vùng và từng địa phương, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [5, tr. Đồng thời, Nghị quyết đưa ra định hướng phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Đến năm 2015, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, cơ sở khám chữa bệnh… cho lao động các khu công nghiệp. Chính sách của Nhà nước về phát triển công nghiệp Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Nhà nước đã cụ thể hóa thành nhiều chính sách để đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống, góp phần đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước.