CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI 1. TỔNG QUAN VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm an sinh xã hội Theo các nhà nghiên cứu, vấn đề an sinh xã hội được đặt ra trên cơ sở lý thuyết rủi ro. Lý thuyết này cho rằng, trong đời sống của mình, mọi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng đồng đều khó tránh khỏi có những lúc gặp rủi ro, tức là phải đối mặt với thiệt hại, mất mát, thương vong do thiên tai, địch họa hoặc những biến động tiêu cực về kinh tế - xã hội gây ra.
Vì thế, xã hội mà đại diện là nhà nước cần phải đặt ra nhiệm vụ quản lý rủi ro, nghĩa là phải sử dụng hàng loạt biện pháp nhằm hỗ trợ cho những đối tượng gặp khó khăn, đặc biệt là những người nghèo, giảm bớt tác động của rủi ro, giúp họ ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Những biện pháp quản lý rủi ro ấy dần dần được bổ sung, phát triển và trở thành hệ thống chính sách an sinh xã hội. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, tùy theo cách tiếp cận, giải quyết vấn đề mà mỗi quốc gia có quan điểm, thể chế chính sách và thể chế cụ thể về hệ thống an sinh xã hội nhằm thực hiện chức năng bảo vệ các thành viên trong xã hội của mình.An sinh xã hội theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau. Theo Liên hiệp quốc, an sinh xã hội tiếp cận trên quyền của người dân (Điều 25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “…Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hộibao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiếtyếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật,góa phụ, tuổi già… hoặc các trường hợp bất khả kháng khác…”.
9 Theo Ngân hàng thế giới (WB) “An sinh xã hội là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế vàxã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản,thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong. Cung cấp chăm sócy tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em” [14]. Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân.
Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội. Ở nước ta, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này. - Theo GS Hoàng Chí Bảo,“ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội. ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách” [3].TS Nguyễn Hải Hữu, “ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ 10 có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khác quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội” [11, tr.TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này.
+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội [7, tr. + Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ [7, tr. - "Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 – 2020”ghi nhận:“An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”[10]. Trên cơ sở phân tích các quan điểm về ASXH của các tổ chức, các nhà khoa học trong và ngoài nước, tácgiả cho rằng: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Như vậy, bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác. Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ 11 bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc. Cấu trúc của an sinh xã hội Thực tế, khi phân tích về cấu trúc của hệ thống ASXH vẫn còn nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau. Nhưng theo quan điểm của quốc tế thì một hệ thống ASXH bao giờ cũng phải có tối thiểu ba hợp phần trong cấu trúc nội dung: Thứ nhất: Các chính sách, chương trình mang tính chất phòng ngừa rủi ro.
Đây được coi là tầng trên cùng của hệ thống ASXH. Vai trò của tầng này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro. Trụ cột cơ bản nhất của hợp phần này là các chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động. Thứ hai: Các chính sách, chương trình mang tính chất giảm thiểu rủi ro Đây được coi là tầng thứ hai của hệ thống ASXH, tầng này có vị trí đặc biệt quan trọng với các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro.
Nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Chính sách thuộc tầng này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống. Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách bị lạm dụng. Thứ ba: Các chính sách, chương trình mang tính chất khắc phục rủi ro Đây được coi là tầng cuối cùng của hệ thống ASXH nhằm bảo vệ an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân họ không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập 12 thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo.
Các chương trình trong hợp phần này thường là trợ cấp xã hội và trợ giúp xã hội (gồm cả trợ giúp xã hội đặc thù) Ở Việt Nam, cấu trúc nội dung của hệ thống ASXH gồm năm trụ cột: Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm thất nghiệp; Trợ cấp xã hội; Trợ giúp xã hội. Thực chất của năm trụ cột này cũng là nhằm thực hiện ba chức năng chiến lược như vừa nêu trên là: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro. Việc phân chia nội dung của hệ thống ASXH như trên có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng mô hình ASXH cho từng nước. Việc xác định nội dung bên trong của mỗi hệ thống ASXH sẽ có ảnh hưởng đến việc xác định đối tượng hưởng thụ, cung cấp tài chính và tính bền vững của mỗi hệ thống.
Do đó, việc xác định đúng nội dung của mỗi hệ thống ASXH luôn được các quốc gia hết sức quan tâm. Khái niệm đảm bảo an sinh xã hội Trong từ điển tiếng Việt, “đảm bảo” được hiểu là cụm từ dùng để diễn đạt việc làm chắc chắn thực hiện hoặc có được những điều kiện cần thiết để thực hiện một nhiệm vụ hay một công việc nhất định. Từ hai khái niệm “an sinh xã hội” và “đảm bảo” ta có thể hiểu: Đảm bảo an sinh xã hội là việc đảm bảo các điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội của nhà nước và xã hội nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục những rủi ro cho các nhóm dân cư yếu thế trong xã hội do chịu tác động bởi các nhân tố khách quan và chủ quan.