mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về ASXH và công tác ASXH đối với ngƣời cao tuổi Chƣơng 2: Thực trạng công tác ASXH đối với ngƣời cao tuổi ở thành phố Đà Nẵng. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác ASXH đối với ngƣời cao tuổi ở thành phố Đà Nẵng thời gian đến. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Vào năm 1935, ở Mỹ, thuật ngữ ASXH đã đƣợc sử dụng lần đầu tiên trên thế giới trong đạo luật về ASXH. Trong đạo luật này, nó quy định chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp.
Sau đó, thuật ngữ này 5 còn đƣợc sử dụng ở những văn bản của các quốc gia khác, dần dần nó đã đƣợc tất cả thừa nhận rằng ASXH là một trong những quyền con ngƣời. ASXH là lĩnh vực còn khá mới mẻ ở nƣớc ta, mặc dù thuật ngữ này đã đƣợc xuất hiện lần đầu ở nƣớc ta trong cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn vào những năm 70 nhƣng nó lại đƣợc sử dụng rộng rải đặc biệt từ những năm 1995. Nhƣng cũng vì tính mới mẻ đó nó lại thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, cho ra đời những tác phẩm xoay quanh vấn đề này nhƣ: Cuốn Giáo trình An sinh xã hội của tác giả Nguyễn Văn Định; cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam của tác giả Mai Ngọc Cƣờng; cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hƣớng tới 2020 do Vũ Văn Phúc chủ biên; cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nƣớc trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Chiều;… Mỗi bài viết đƣợc tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau về chủ đề ASXH, nhƣng đều khẳng định hệ thống ASXH ở nƣớc ta hƣớng tới mục tiêu góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Trong chiến lƣợc ASXH 2011-2020 của Bộ lao động – Thƣơng binh và xã hội đã ch ra rằng hệ thống ASXH thời kỳ 2011-2020 gồm 3 tầng lƣới với những mục tiêu lần lƣợt là phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro.
Mỗi tầng bao gồm những nhóm chính sách khác nhau và chúng hỗ trợ lẫn nhau để hƣớng tới mục tiêu là bảo đảm mức sống tối thiểu của mọi ngƣời dân. Bên cạnh đó, với quá trình già hóa đang ở thành xu thế trên toàn cầu, thì nhiều bài nghiên cứu về tình hình ASXH đối với NCT cũng lần lƣợt đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc cho ra đời. 6 Theo UNFPA (2011), già hóa dân số là một trong những xu hƣớng có ý nghĩa nhất của thế kỷ XXI, có tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia.Tổ chức y tế Thế giới (WHO, 2008) cho rằng NCT trên khắp thế giới đang đối mặt với nguy cơ nghèo. Nhận thấy vấn đề cấp thiết của tình hình đó trên thế giới đã có khá nhiều bài nghiên cứu về nghèo và tác động của trợ giúp bằng tiền tới giảm nghèo cho ngƣời cao tuổi ở các quốc gia khác nhau nhƣ Nam Phi (Armando Barientos ( 2006)), Thái Lan ( Worawet và Wesumperuma (2012)) ,… hay nghiên cứu đánh giá tình trạng nghèo của NCT và tác động của trợ cấp xã hội hàng tháng cho NCT ở một số nƣớc Châu Á (trong đó có Việt Nam) trong việc giảm nghèo (Mujahid và cộng sự (2008)).
Bàn về hệ thống trợ cấp cho NCT, phân tích của Mujahid và cộng sự (2008) cho thấy khoản trợ cấp giảm bớt đƣợc gánh nặng chăm sóc sức khỏe cho NCT, góp phần làm tăng chi tiêu của hộ gia đình có NCT, còn Nepal và Băng-la-đ t, Begum và Wesumperuma (2012) và Samson (2012) có cùng kết luận rằng các nƣớc có thu nhập thấp đều có thể xây dựng và thực hiện một hệ thống trợ cấp xã hội phổ cập cho toàn bộ ngƣời cao tuổi, mức sống của NCT đƣợc cải thiện và khả năng giảm nghèo tốt hơn. Tuy nhiên, các tác giả cũng khuyến cáo việc cung cấp trợ cấp có thể có nhiều nguy cơ rủi ro khi tất cả các nguồn tiền lớn ch do một tổ chức của nhà nƣớc phụ trách. Ở Việt Nam, những nghiên cứu của Mạc Tiến Anh (2005) về hiện tƣợng già hóa của một số nƣớc trên thế giới đã đƣa ra những phân tích về điều kiện thực tiễn của từng nƣớc, những tác động, ảnh hƣởng của già hóa dân số và các cách giải quyết, ứng phó của Chính phủ các nƣớc. Theo nghiên cứu của Giang Thanh Long (2004) đã cho thấy hệ thống hƣu trí Việt Nam phải đối mặt với hai thách thức.
Thứ nhất là các thách thức trong ngắn hạn có liên quan đến tỷ lệ tham gia hệ thống vẫn còn rất thấp và hiệu 7 quả quản lý còn chƣa cao. Thứ hai là các thách thức trong dài hạn - đƣợc coi là hệ quả của các thách thức trong ngắn hạn – có liên quan đến vấn đề dân số già hoá nhanh, và vì thế mà tỷ lệ phụ thuộc của hệ thống cũng tăng nhanh. Bên cạnh đó, thông qua việc nghiên cứu thực trạng đời sống của những ngƣời ngh hƣu, đề tài nghiên cứu của Phạm Đình Thành (2014) đã nêu lên những nguyện vọng của NCT mong muốn các cấp có thẩm quyền có những biện pháp để hoàn thiện chính sách hƣu trí, đáp ứng đƣợc nhu cầu của NCT. Trong công trình của Đỗ Thị Kim Oanh (2015) cũng đã nghiên cứu về mối quan hệ, tác động qua lại giữa vấn đề già hóa dân số và chính sách xã hội, chính sách y tế ở Việt Nam.
Nó đã ch ra những tác động tích cực cũng nhƣu tiêu cực trong việc cân đối và xử lý quỹ BHXH, BHYT trong giai đoạn già hóa dân số đang diễn ra. Với nghiên cứu của Giang Thanh Long và Hoàng Chinh Thon (2013) đã cho thấy trợ cấp tiền cho nhóm NCT nghèo là một công cụ khả thi để giảm nghèo cho họ và Việt Nam có thể xây dựng đƣợc một hệ thống phổ cập trong tƣơng lai. Ngoài ra, còn nêu ra việc quan trọng mọi ngƣời cần phải chuẩn bị tốt hành trang cho tuổi già ngay khi còn trẻ thông qua việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Nhìn chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ASXH nói chung cũng nhƣ về một khía cạnh nào đó của ASXH trong tình hình già hóa dân số đang diễn ra, nhƣng đến nay vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu và đề xuất giải pháp đảm bảo hoàn thiện công tác ASXH đối với nhóm đối tƣợng cụ thể là NCT trên địa bàn thành phố nhƣ Đà Nẵng.
Vì vậy, luận văn này tác giả sẽ đi sâu giải quyết vấn đề trên. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI 1. KHÁI QUÁT VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ NGƢỜI CAO TUỔI 1. K á n ệm An s n xã ộ Trong nhiều năm gần đây, có khá nhiều định nghĩa về an sinh xã hội rất đa dạng, nhấn mạnh vào từng trụ cột hoặc đối tƣợng thụ hƣởng khác nhau.
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nƣớc hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”. Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tƣợng ở khu vực kinh tế không chính thức. Công ƣớc 102 của ILO nêu rằng: “ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập”. Nhƣ vậy ILO quan niệm đối tƣợng của an sinh xã hội là nhóm ngƣời có thu nhập không đủ trang trải cho những điều kiện tối thiểu, xã hội cần tiến hành đồng bộ các biện pháp công cộng khác nhau nhằm phân phối lại thu nhập, dịch vụ xã hội.
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đƣơng đầu và kiềm chế đƣợc nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thƣơng và những bấp bênh về thu nhập”. WB nhấn mạnh đến các biện pháp công cộng để hạn chế và làm giảm các tác động tiêu cực cho hộ gia đình và cộng đồng dễ bị tổn thƣơng bao gồm việc nhà nƣớc cung cấp và khuyến khích phát triển các dịch vụ công nhƣ: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế 9 (BHYT), trợ cấp xã hội (TCXH) và những biện pháp khác có tính chất tƣơng tự. Trong đó vai trò BHXH là quan trọng nhất. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan niệm: “ASXH là một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân”.
Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính dễ bị tổn thƣơng của con ngƣời nếu không có ASXH. Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) thì lại xem ASXH là thành tố của hệ thống chính sách xã hội liên quan đến sự đảm bảo an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội chứ không ch có công nhân. Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khỏe thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già, phòng chống tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN); trợ giúp xã hội. Ở Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề ASXH, góp phần rất lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở nƣớc ta.
+ Trong “ Chiến lƣợc ASXH giai đoạn 2011-2020” của Việt Nam đã nêu ra: “ASXH là sự đảm bảo mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trƣớc nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế ”. [2] + Theo quan điểm của GS.