Chương 1: Truyện thơ Mường Thanh Hoá trong bối cảnh truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt nam Chương 2: Truyện thơ Mường Thanh Hoá nhìn từ góc độ nội dung Chương3: Truyện thơ Mường Thanh Hoá nhìn từ góc độ nghệ thuật 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TRUYỆN THƠ MƢỜNG THANH HOÁ TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN THƠ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 1. Xung quanh khái niệm truỵện thơ Theo Từ điển thuật ngữ do PGS.Trần Đình Sử, GS. Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (bản in năm 2004 của NXB Giáo dục), không có mục từ truyện thơ và chỉ có mục từ truyện Nôm với lời giải thích như sau: “Thể loại truyện thơ dài, rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ nôm nên được gọi là truyện Nôm” [Tr 372]. Cũng theo các tác giả trên thì ở Việt Nam các truyện thơ dài như: Truyện Kiều, Tiễn dặn người yêu…được gọi là truyện thơ, các tác phẩm trữ tình dài được gọi là ngâm khúc.
Về vấn đề truyện thơ Nôm người Việt thì các nhà nghiên cứu trước đây chia truyện thơ Nôm thành 2 loại “Truyện Nôm hữu danh và truyện Nôm khuyết danh”. Truyện Nôm hữu danh là loại truyện biết rõ tên tác giả, còn truyện Nôm khuyết danh là loại truyện chưa biết tác giả là ai. Thực ra lối phân chia này thuần tuý có tính chất hình thức mà không nói lên một đặc điểm nào về nội dung hay thể loại. Bởi vì chỉ cần tìm ra tên tác giả của truyện Nôm khuyết danh nào đó là nghiễm nhiên ta có thể xếp các truyện Nôm vốn khuyết danh kia vào kho tàng những truyện Nôm hữu danh.
Cách phân chia như thế không phải là việc phân loại khoa học. Theo quan niệm truyền thống có 2 loại truyện Nôm, các tác phẩm được gọi là truyện Nôm bác học bao gồm: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện), Sơ Kính Tân Trang (Phạm Thái); các tác phẩm Phạm Tải - Ngọc Hoa, Trống Trân - Cúc Hoa, Phương Hoa, Lý Công được gọi là truyện Nôm bình dân thường được viết dựa theo những câu chuyện cổ tích của ta chứ không phải dựa theo những cốt truyện của Trung Quốc như truyện Nôm bác học. Truyện Nôm bình dân được sáng tác ra để kể 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là chính, chứ không phải là để xem, để đọc. Nói chung cách sáng tác của truyện Nôm bình dân cũng có tính cách tập thể, ở một chừng mực nào đó giống như cách sáng tác của truyện cổ tích.
Quan niệm thứ hai cho rằng, truyện Nôm bình dân thuộc phạm trù Văn học dân gian. GS Kiều Thu Hoạch đã thể hiện quan niệm của mình trong công trình Truyện nôm nguồn gốc và bản chất thể loại xuất bản năm 1993 - NXB KHXH. Trong công trình này ông đã điểm lại lịch sử nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan, phân tích nguồn gốc phát triển và thể loại, khảo sát thi pháp và chức năng tư tưởng – thẩm mĩ của truyện Nôm. Ông khẳng định rằng truyện Nôm bình dân chính là những sáng tác dân dã nằm trong văn hoá dân gian.
Viện nghiên cứu Văn hoá đồng tình với quan niệm của GS. Kiều Thu Hoạch khi Viện nghiên cứu Văn hoá phối hợp với NXB KHXH biên soạn và công bố cuốn sách “Tổng tập văn học dân gian người Việt”. Cuốn sách này một lần nữa khẳng định truyện Nôm bình dân là một thể loại văn học dân gian. Truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 1.
Khái niệm Theo GS.TS Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam” (tập 21, NXB KHXH - 2008) thì “Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, được kể, được hát, được ngâm, được kể cả trước và sau khi đã được ghi chép và thường có nội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống lứa đôi” [21; Tr 68]. Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một loại hình tự sự có hình thức văn vần, còn về các hình thức diễn xướng, kể hát, ngâm, đọc thì không phải là truyện thơ nào cũng được thể hiện bằng tất cả các hình thức đó. Sự ra đời của hàng loạt truyện thơ các dân tộc ít người không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà chúng xuất hiện có tính chất quy luật phổ biến, theo những nhu cầu khách quan và theo những điều kiện lịch sử xã hội lúc đó. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những sáng tác dân gian vốn đã ra đời trước đây như các truyện thần thoại nói về sự ra đời của các dân tộc, về các kì tích chinh phục thiên nhiên, các bài dân ca phục vụ sinh hoạt của cộng đồng vẫn còn tiếp tục lưu truyền và phát huy tác dụng trong sinh hoạt tinh thần của nhân dân các dân tộc anh em nhưng giờ đây những nhân tố mới thể hiện sự tiên tiến của xã hội các dân tộc ít người nảy sinh những sự phân biệt giàu nghèo, sự đấu tranh giai cấp… Ngoài ra, sự chi phối ảnh hưởng của môi trường văn hoá xã hội ở miền xuôi lên, sự giao lưu văn hoá với các dân tộc láng giềng ngày càng mở rộng.
Những đổi mới về mặt xã hội đó, những tác động về mặt văn hoá đó tất nhiên dẫn đến sự nảy sinh những nhu cầu mới trong sinh hoạt tinh thần của các dân tộc thiểu số. Đề tài truyện thơ cũng rất phong phú. Chúng đề cập đến nhiều mặt trong hiện thực xã hội của các dân tộc anh em hoặc thân phận những đứa trẻ mồ côi hoặc cuộc sống cực nhục của những người lao động nghèo khổ hoặc khát vọng lập công cứu nước trả thù nhà của các chàng trai… Đặc biệt là đề tài về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống của người phụ nữ trong lòng xã hội cũ là một đề tài khá phổ biến. Đó là khát vọng dân chủ thiết tha và mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong kiến mà quyền sống con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, tất cả được phản ánh vào trong nền văn học các dân tộc thiểu số.
Nếu loại hình sử thi anh hùng thuộc phạm trù văn học dân gian thực sự thì loại hình truyện thơ thể hiện bước phát triển mới của văn học dân gian các dân tộc ít người. Nó phản ánh sự vận động, biến chuyển có ý nghĩa lịch sử sâu sắc của văn học dân gian các dân tộc ít người, tiến tới tiếp cận nền văn học thành văn của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nền văn hoá Việt Nam do vậy cũng là nền văn hoá đa dân tộc, truyện thơ các dân tộc thiểu số khá phong phú và đa dạng. Dân tộc Tày - Nùng có các truyện thơ Nam Kim - Thị Đan, Trần Châu, Quảng Tân – Ngọc Lương, Kim quế, Chim sáo, Vượt biển…; dân tộc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thái có các truyện thơ: Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú - Nàng Ủa, Khăm Panh…; dân tộc Mường có các truyện thơ: Út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai mối, Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương…; dân tộc H‟Mông có các truyện thơ: Tiếng hát làm dâu, Nàng Dợ - Chà Tăng…; người Chăm có những truyện thơ như: Hoàng Tử Um rúp, Chăm Baní, Têva - Mưnô…người Khơ Me có những truyện thơ như: Si Thạch, Tiêm Tiêu… Nhìn chung kho tàng truyện thơ của các dân tộc thiểu số khá phong phú, có liên quan và bổ sung cho nhau tạo nên diện mạo đa dạng của loại hình truyện thơ trong nền văn học các dân tộc ít người.
Phân loại truyện thơ các dân tộc thiểu số Về việc phân loại truyện thơ các dân tộc thiểu số cũng có nhiều ý kiến và cách phân loại khác nhau. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi xin phép đưa ra hai cách phân loại tiêu biểu. Căn cứ theo phƣơng thức diễn xƣớng, lƣu truyền và nguồn gốc kế thừa của truyện thơ các dân tộc thì chia thành bốn nhóm lớn (Ý kiến của GS. - Nhóm truyện thơ gắn với sinh hoạt nghi lễ dân gian: Khảm hải (Tày), Đặng Hành và Bàn Đại Hộ (Dao), Ông cha đánh giặc (Thái)… - Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian các dân tộc: Chim Sáo, Nàng Kim Quế (Tày)… - Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca các dân tộc: Tiễn dặn người yêu (Thái), Nàng Ờm – Chàng Bồng Hương, Út Lót – Hồ Liêu (Mường)… - Nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của truyện thơ Nôm Kinh: Lưu Đài – Hán Xuân, Trần Châu (Tày)… Theo PGS.
TS Lê Trường Phát đã đánh giá thì cách phân loại này không xuất phát từ một tiêu chí rõ ràng, lúc thì căn cứ vào phương thức và môi trường diễn xướng, lúc thì căn cứ vào dung lượng của yếu tố trữ tình hay tự sự, lúc thì lại căn cứ vào nội dung xã hội thuần tuý nên không chặt chẽ. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nếu căn cứ vào đề tài có thể chia truyện thơ thành 3 loại (Ý kiến của GS Phan Đăng Nhật). a) Truyện thơ về đề tài tình yêu Truyện thơ thuộc nhóm này có thể kể đến: Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú - Nàng Ủa…của dân tộc Thái; Nam Kim - Thị Đan, Nhân Lăng… của dân tộc Tày; Nàng Ờm - chàng Bồng Hương, Nàng Nga - Hai mối, Út Lót - Hồ Liêu… của dân tộc Mường; Nàng Dợ - Chà Tăng… của dân tộc H‟Mông.
Nhóm truyện thơ này có thể phân thành hai bộ phận: Bộ phận còn in đậm dấu vết của dân ca biểu hiện ở những điều sau: kết cấu tự sự vẫn chưa chặt chẽ, nhân vật còn phiếm chỉ, còn lưu giữ rất rõ cách sắp xếp của dân ca giao duyên đối đáp… tiêu biểu cho bộ phận này là truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Thái), truyện Nam Kim - Thị Đan (Tày), Nàng Dợ - Chà Tăng (H‟Mông). Bộ phận thứ hai đã mang nhiều tính chất truyện kể hơn, tiêu biểu như truyện thơ Chàng Lú - Nàng Ủa (Thái), truyện Ú Thêm (Thái).