Chương 1 THƠ NGUYỄN HOA TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ VIỆT NAM TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY 1. Khái lược thơ Việt Nam từ sau 1975 đến nay 1. Những tiền đề lịch sử thẩm mĩ Dân tộc Việt Nam đã trải qua 30 năm trường kì gian khổ chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra kỉ nguyên độc lập tự do, thống nhất đất nước.
Tuy nhiên, đời sống hậu chiến cũng đặt ra rất nhiều cam go, thách thức với những người vừa bước ra khỏi chiến tranh. Cuộc sống thời bình với những quy luật của nó đã tác động mạnh mẽ đến lối sống, cách nghĩ của con người, buộc họ phải nhận thức lại nhiều vấn đề về cuộc sống cũng như các mối quan hệ nhân sinh, xã hội. Nguyễn Trọng Tạo đã từng viết: “Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật không dễ dàng chi…” (Tản mạn thời tôi sống). Như vậy, sau 1975, ta có thể thấy rõ những chuyển biến và đổi thay phức tạp, đa chiều trong trạng thái tinh thần xã hội.
Sau 1986, cùng với Đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước chuyển sang thời kì Đổi mới. Nội dung quan trọng nhất của sự nghiệp đổi mới là định hướng vì con người: “Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người là mục đích của mọi hoạt động”[13]. Điều này đã kéo theo những chuyển biến tích cực và to lớn trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng… Riêng về lĩnh vực văn nghệ, Nghị quyết 5 của Bộ Chính Trị đã nêu rõ: “Đổi mới và nâng cao sự lãnh đạo về quản lý văn hóa văn nghệ lên một bước cao hơn”[13]. Nghị quyết đã khẳng định rõ vai trò tự do sáng tạo của mỗi văn nghệ sĩ chính là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ và để phát triển tài năng.
Đại hội Đảng VI là sự đáp ứng hết sức kịp thời và mạnh mẽ yêu cầu của dân tộc và thời đại vào thời điểm lịch sử đó. Tinh thần dân chủ được phát huy trên nhiều lĩnh vực của đời sống, đã tiếp thêm nghị lực và sức mạnh cho toàn thể dân tộc trong thời kì đổi mới. Bối cảnh ấy thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến từng số phận con người. Bên cạnh đó, việc nhà nước chủ trương mở cửa hội nhập với thế giới tạo nên những hoạt động giao lưu văn hóa, văn học rộng rãi, cởi mở.
Sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, tinh thần dân chủ và ý thức “nhìn thẳng vào sự thật”, nói rõ sự thật là những động lực cơ bản của văn học Đổi mới. Trong quan niệm về chức năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 văn học, mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc cũng như sự tiếp nhận văn học v.v có những thay đổi tích cực. Việc tìm kiếm, thể nghiệm cách tiếp cận thực tại về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật đã được phát huy mạnh mẽ. Đồng thời cá tính và phong cách cá nhân của nhà văn cũng được chú ý, đề cao.
Tóm lại, chiến thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một thời kì mới với lịch sử dân tộc, đồng thời cũng mở ra một chặng đường mới của nền văn học Việt Nam. Sự chuyển biến lớn của đất nước sau năm 1975, đặc biệt sau Đại hội Đảng lần thứ VI đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có văn học nghệ thuật. Tất cả đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển tích cực của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sự đổi mới trong tư duy thơ Việt Nam sau 1975 1.
Tương ứng với sự thay đổi của bối cảnh lịch sử- xã hội, tình hình phát triển của thơ Việt Nam sau 1975 có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước đó. Trong giai đoạn 1945- 1975, tương ứng và chi phối bởi một hoàn cảnh lịch sử có tính đặc thù, những giá trị văn hóa xã hội cơ bản đã được thiết lập trên cơ sở cộng đồng, tập thể, dân tộc; cảm hứng chủ đạo của nền văn học cách mạng là Chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc lập tự do và lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Văn học thời kì này hướng đến những sự kiện và biến cố lớn lao, trọng đại có liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của dân tộc, của cộng đồng, những xung đột gay gắt về ý thức hệ, nội dung cảm hứng thiên về cái cao cả hào hùng với thái độ ngợi ca: Thơ ta ơi! Hãy cất cao tiếng hát Ca ngợi trăm lần Tổ quốc chúng ta (Mùa thu mới - Tố Hữu) Người nghệ sĩ đồng hành với Cách mạng qua bao gian lao, thăng trầm lịch sử và đã tạo nên một diện mạo văn học đặc thù, mang đậm dấu ấn của một giai đoạn lịch sử dữ dội mà hào hùng. Hướng đến và đề cao giá trị cộng đồng, dân tộc với những phẩm chất truyền thống, nhiệm vụ cơ bản của sáng tác văn học giai đoạn này là tuyên truyền, cổ vũ cho Cách mạng, cho các nhiệm vụ chính trị.
Do đó, hình tượng trung tâm của nền văn học này là những hình tượng mang tính sử thi như Tổ quốc, Nhân dân, Lãnh tụ, Người lính… Những hình tượng này hiện lên đẹp đẽ, rực rỡ, muôn người như một. Vai trò cá nhân mờ nhạt, ít được nói đến trong văn học, cái riêng hòa vào cái chung của cộng đồng. Ta có thể thấy trong những câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mà nói vậy: Trái tim anh đó Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều Phần cho thơ, và phần để em yêu… (Bài ca xuân 61) Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, bối cảnh đó đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới toàn bộ sinh hoạt vật chất và tinh thần của dân tộc, trong đó có lĩnh vực văn học nghệ thuật. Đặc biệt từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, “với tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật” đã tạo cơ sở tư tưởng cho hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ.
Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn học. Điều này đòi hỏi người nghệ sĩ phải tích cực đổi mới quan niệm về hiện thực, về bản chất hoạt động sáng tạo cũng như vai trò trách nhiệm của mình trong điều kiện lịch sử xã hội mới. Đây chính là động lực quan trọng tạo nên nguồn cảm hứng sáng tạo mới trong thơ Việt Nam sau 1975. Trước 1975, do hoàn cảnh lịch sử xã hội gắn liền với cuộc chiến tranh vệ quốc dẫn đến việc đề cao quá mức thuộc tính phản ánh hiện thực.
Vấn đề hình thức nghệ thuật bị hiểu một cách phiến diện, hẹp hòi, cũng như sự tìm tòi sáng tạo của cá nhân nghệ sĩ bị coi nhẹ. Do quan niệm phản ánh ấu trĩ và thô sơ này mà bản chất hiện thực chưa được khai thác thể hiện một cách sâu sắc và phong phú như vốn có. Đời sống nội tâm, tinh thần của con người cá nhân không được chú ý đúng mức, thậm chí những biểu hiện của tình cảm riêng tư có khi còn bị đồng nhất với chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Nói cách khác, ở thời kì này, thơ đã không phản ánh được một cách toàn vẹn và khách quan hiện thực tâm hồn con người.
Bên cạnh đó, do bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử đặc thù, trong văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, những mặt tiêu cực, hạn chế trong xã hội chưa được đề cập, nhiều nội dung hiện thực bị né tránh: những điều ngang trái, bất công trong xã hội, những bi kịch, mất mát, đau thương trong chiến tranh, những tình cảm riêng tư, những khao khát bản năng trong đời sống cá nhân… Tóm lại, trong một thời gian dài trước năm 1975, con người được chú ý nhiều hơn trong mối quan hệ với lịch sử, dân tộc, thời đại, ngược lại phần riêng tư, cá nhân, cá tính, số phận riêng ít được chú ý đề cập. Nói cách khác, văn học thời kì này quan tâm đến vấn đề “con người trong lịch sử” hơn là “lịch sử trong con người”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Sau năm 1975, tinh thần đổi mới đã trỗi dậy mạnh mẽ trong thơ ca nói riêng, trong văn học nói chung, nhằm hướng tới một quan niệm đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn về hiện thực. Nhận thức này là tất yếu, bởi nó gắn với những thay đổi mạnh mẽ của bối cảnh hậu chiến, và khi bên cạnh đời sống lịch sử, cộng đồng, đời sống cá nhân đã được đặt ra như một vấn đề xã hội cần thiết.
Do vậy, bản chất của thơ cũng như mối quan hệ giữa thơ ca và hiện thực đã được nhận thức lại. Giờ đây, thơ có quyền nói tới cả những vấn đề mà mà trước đây người ta ít quan tâm, thậm chí cả những vấn đề mà trước đây bị xem là “húy kị”. Hiện thực được phản ánh trong văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng phải là một hiện thực toàn vẹn, được nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều phong phú và phức tạp như chính bản thân đời sống. Đó không chỉ là hiện thực bên ngoài mà còn là hiện thực bên trong, hiện thực của đời sống tư tưởng, tình cảm, cảm xúc… của con người.
Trách nhiệm của người nghệ sĩ phải nói lên được cái toàn vẹn, cái đa chiều đó. Như vậy, sự thức tỉnh trở lại của ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người. “Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triết học hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản”[42]. Giờ đây con người được xem là điểm xuất phát, là đích cuối cùng của văn học, là điểm quy chiếu, vừa là thước đo của mọi vấn đề trong xã hội, cho nên tư tưởng thời đại đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong cách cảm, cách nghĩ với quan niệm dấn thân vào cuộc đời và tôn trọng sự thật.
Turghenhev từng nói: “Nghệ sĩ mà bị tước mất khả năng nhìn thấy cái trắng và cái đen - cả ở bên phải và bên trái - thì có nghĩa anh ta đang đứng bên lằn ranh của cái chết”.