Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ mới Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ mới Chương 4: Con đường hình thành thành ngữ mới và những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực trong lời nói tiếng Việt 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái niệm Trong ngôn ngữ của một dân tộc, thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt. Thành ngữ không chỉ là một bộ phận quan trọng trong từ vựng của mỗi một ngôn ngữ trên thế giới, mà còn là một nguồn tư liệu quí báu lưu giữ những đặc trưng văn hóa tư duy của dân tộc sở hữu nó. Giống như tất cả các ngôn ngữ khác, tiếng Việt có một hệ thống thành ngữ vô cùng đa dạng và phong phú.
Thành ngữ là kho báu của văn hóa dân tộc, góp phần rất lớn vào việc phát triển tiếng nói của dân tộc, làm cho tiếng Việt giàu có hơn. Thành ngữ tiếng Việt hình thành từ lâu đời và được nhân dân sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Thành ngữ làm cho lời nói trở nên gãy gọn, súc tích, mang tính thẩm mỹ cao. Phát triển thành ngữ là một trong những cách tốt để bổ sung vốn từ của một ngôn ngữ.
Xét về mặt tu từ, thành ngữ đã góp phần làm giàu, làm đẹp cho tiếng Việt trên rất nhiều phương diện. Với vị trí quan trọng trong hệ thống từ vựng, thành ngữ được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm sưu tập và nghiên cứu. Trong chuyên luận Thành ngữ tiếng Việt, Hoàng Văn Hành cho rằng “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày, đặc biệt là khẩu ngữ” [17, tr25]. Trong những giáo trình ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứ đã đưa ra nhiều định nghĩa về thành ngữ.
Những năm 60 của thế kỉ 20, thành ngữ học tiếng Việt được nghiên cứu với cơ sở khoa học nghiêm túc. Năm 1968, trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nguyễn Văn Tu đã đưa ra khái niệm: “Thành ngữ là những cụm từ cố định mà các từ trong đó mất đi tính độc lập đến một trình cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do 11 nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra. Những thành ngữ này có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có.
Nghĩa của chúng dã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [31, tr147]. Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Tu cũng cho rằng: “Một số thành ngữ tiếng Việt có tính chất kiểu điển tích, điển cố nhưng điển tích điển cố ấy không còn được nhớ lại nữa, thậm chí là những người dùng hiện nay không cần biết lai lịch của những thành ngữ ấy”. [31, tr148] Theo Đái Xuân Ninh (1978), “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất đi tính độc lập ở mức nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh”. [23, tr212] Trong giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Đỗ Hữu Châu đã nêu lên quan niệm của mình về thành ngữ: “Thành ngữ là cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ) nhưng đã cố định hoá cho nên cũng có tính chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ.” [3,tr72] Nguyễn Thiện Giáp (1998) cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm”.
[11, tr77] Ví dụ: lanh chanh như hành không muối; chó ngáp phải ruồi; nói thánh nói tướng; lừ đừ như ông từ vào đền; hồn xiêu phách lạc; giật gấu vá vai; nhạt phấn phai hương…. Giống như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (2009), Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến đã dành một chương lớn để nghiên cứu về ngữ cố định nói chung và thành ngữ nói riêng. Ba nhà nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm thành ngữ: “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/và gợi cảm”.
[6, tr157] Trong từ điển tiếng Việt và từ điển thành ngữ các nhà nghiên cứu cũng đưa ra khái niệm về thành ngữ. 12 Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa về thành ngữ một cách khái quát nhất: “Thành ngữ là tập từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích bằng nghĩa của các từ tạo nên”. Năm 2010, tác giả Diệp Quang Ban khẳng định: “Thành ngữ (formulatic phrase) là một tổ hợp tương đối ít biến đổi trong thành phần cấu tạo, có tính chất của đơn vị trọn vẹn về nghĩa tương đương với cấu tạo của một từ có nghĩa từ vựng, như nước đổ lá khoai có nghĩa là “không có tác dụng”, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược là “không thống nhất (với nhau) về ý nghĩ, hành động. Hai tác giả Nguyễn Lực và Lương Văn Đang trong Thành ngữ tiếng Việt (1978) đã kết luận thành ngữ có ba đặc điểm sau: - Về mặt kết cấu hình thái: Thành ngữ thuộc loại hình thái cố định.
- Về biểu hiện nghĩa của thành ngữ: Một bộ phận có tính đa nghĩa nhưng bộ phận mang nghĩa bóng quan trọng hơn cả. Nghĩa này có tính khái quát, tượng trưng cho toàn bộ tổ hợp, tuy vậy, nó không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cộng lại. Có người xem nghĩa của thành ngữ có tính chất biểu trưng. Khi nói nghĩa bóng là nói chung nhiều phương thức biểu hiện nghĩa của thành ngữ như: ẩn dụ, hoán dụ, khoa trương, so sánh.
- Về mặt vận động và quá trình sử dụng thành ngữ, thành ngữ có thể có hai dạng dạng: ngữ cố định, có khi như một cụm C-V Trong Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (2007), Nguyễn Lân hiểu “Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm. Thí dụ: ăn sổi ở thì, ba vuông bảy tròn, cơm sung cháo giền, nằm sương gối đất…”. [21, tr2] 13 Nhìn chung, các định nghĩa hoặc khái niệm của các tác giả đều xuất phát từ bình diện cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ và thống nhất với nhau ở mấy điểm sau: - Về cấp độ, thành ngữ là một đơn vị tương đương với từ. - Về mặt cấu trúc, thành ngữ là một đơn vị có cấu trúc hình thái chặt chẽ.
Đây là lí do thành ngữ còn được gọi là một “cụm từ cố định” trong sự đối sánh với thuật ngữ “cụm từ tự do” theo nghĩa là những cụm từ/ ngữ tổ hợp từ không có tính bền vững về mặt cấu trúc hình thái. - Về mặt ý nghĩa, nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa từng yếu tố cấu tạo nên mà là kết quả của quá trình biểu trưng hóa các sự vật hiện tượng, thuộc tính v. do các yếu tố từ vựng chuyền tải. Vì thế, có tác giả gợi nghĩa của thành ngữ là nghĩa biểu trưng, hay nghĩa “bóng”.
Trong luận văn, để phục vụ cho việc nghiên cứu thành ngữ mới, chúng tôi đồng nhất ý kiến với Hoàng Văn Hành về khái niệm thành ngữ được nêu trong chuyên luận Thành ngữ tiếng Việt đã trích dẫn ở trên. Những đặc trưng nổi bật của thành ngữ gồm: (1) Tính cố định về hình thái – cấu trúc. - Một là, thành phần từ vựng của thành ngữ, nói chung là ổn định, nghĩa là, các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong sử dụng, mà trong nhiều trường hợp không thể thay thế bằng các yếu tố khác. - Hai là, tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở sự cố định về trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ.
Theo Hoàng Văn Hành, “Tính ổn định, cố định về thành phần tự vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của người bản ngữ”[17, tr28]. Từ nhận định này ta thấy rằng, thành ngữ ngày nay ta sử dụng cũng vốn chỉ là những tổ hợp từ tự do. Song nhờ được tái hiện lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói với những sự chuyển di ngữ nghĩa nhất định, nó đã được cộng đồng bản ngữ ghi nhận. Đây cũng chính là cơ sở cho việc xuất hiện thành ngữ mới trong từ thời kì.
14 (2) Tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa. Thành ngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Nói một cách khác, thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ. Ví dụ: nước mắt cá sấu: khóc giả dối; há miệng mắc quai: ở trạng thái khó nói, vì tự mình gây ra điều gay cấn.
Song khác với các đơn vị từ vựng bình thường, thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữ không hướng lên điều được nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng. Ví dụ: Thành ngữ cá nằm trên thớt không phải miêu tả con cá đang nằm trên thớt như nói cuốn sách nằm trên bàn, mà ngụ ý nói đến hiện tượng là trạng thái nguy hiểm đối với sự sống còn. Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hoá. Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và được sử dụng rộng rãi, tự nhiên trong giao tiếp hàng ngày.
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành, thành ngữ tiếng Việt hình thành bằng những con đường sau: Một là, sử dụng thành ngữ tiếng nƣớc ngoài dƣới các hình thức khác nhau. Trong tiếng Việt, thành ngữ vay mượn nước ngoài chủ yếu là các thành ngữ gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt. Những thành ngữ này khi mượn vào tiếng Việt, có thể được giữ nguyên hình thái - ngữ nghĩa, dịch từng chữ (một phần hoặc tất cả các yếu tố), hoặc dịch nghĩa chung của thành ngữ, có thay đổi trật tự các yếu tố cấu tạo. Những thành ngữ gốc Hán được sử dụng trong hình thức nguyên dạng chiếm tỉ lệ lớn so với toàn bộ thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt.
Ví dụ: chí công vô tư, đồng cam cộng khổ, xuất đầu lộ diện, an cư lạc nghiệp, thiên biến vạn hoá, giả nhân giả nghĩa, thiên la địa võng, sinh li tử biệt, hữu danh vô thực, danh chính ngôn luận, tự lực cánh sinh… Một số tiểu loại thành ngữ mượn thành ngữ gốc Hán: - Thành ngữ gốc Hán mượn nguyên dạy chủ yếu dùng trong văn bản viết và mang tính sách vở rõ rệt.