Luận văn: Đặc điểm sinh học quần thể Thạch sùng đuôi sần ở Ninh Bình & Thanh Hóa

Luận văn nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh sản, dinh dưỡng của quần thể thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) tại Ninh Bình và Thanh Hóa.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Động vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ sinh học

2009

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về Thạch sùng đuôi sần

Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836) là một loài bò sát phổ biến thuộc họ Gekkonidae, được phân bố rộng rãi trên khắp Đông Nam Á bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam. Loài này có tên gọi khác là thạch sùng nhà vì chúng thường sinh sống gần các khu dân cư. Đặc điểm sinh học của Thạch sùng đuôi sần thể hiện rõ sự thích nghi với môi trường sống đa dạng. Theo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng và Hoàng Xuân Quang, loài này có những biến dị hình thái đáng kể giữa các quần thể khác nhau, đặc biệt là ở các vùng có điều kiện khí hậu khác biệt như Ninh Bình và Thanh Hóa. Sự hiểu biết về đặc điểm sinh học các quần thể này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn góp phần vào việc bảo vệ đa dạng sinh học.

1.1. Phân loại và nguồn gốc

Thạch sùng đuôi sần thuộc họ Gekkonidae, được đặc trưng bởi các đặc điểm phân loại độc đáo. Loài này được mô tả khoa học bởi Schlegel năm 1836 và kể từ đó đã được nghiên cứu rộng rãi. Đặc điểm hình thái của loài bao gồm thân nhỏ gọn, đuôi sần với các nhíp dưới chân giúp leo trèo. Các quần thể Thạch sùng đuôi sần ở Việt Nam có nguồn gốc từ các dòng dõi Đông Nam Á, thể hiện những đặc trưng tiến hóa phù hợp với khí hậu nhiệt đới.

1.2. Phân bố địa lý

Thạch sùng đuôi sần có phân bố rất rộng rãi trên toàn thế giới, nhất là ở các vùng có khí hậu ấm áp. Ở Việt Nam, loài này phân bố khắp nơi từ miền Bắc đến miền Nam, với những đặc điểm sinh học khác biệt tùy theo vùng địa lý. Các quần thể ở Ninh Bình (Yên Mô, Nho Quan) và Thanh Hóa (Bỉm Sơn) thể hiện những biến dị quần thể đáng chú ý do ảnh hưởng của khí hậu địa phương.

II. Đặc điểm hình thái và màu sắc

Đặc điểm sinh học của Thạch sùng đuôi sần bắt đầu từ các tính trạng hình thái rõ rệt. Loài này có thân dài khoảng 7-10cm, với màu sắc thay đổi từ xám đến nâu, thường có các đốm tối trên lưng. Đuôi của loài có bề mặt sần (do đó có tên gọi đuôi sần), chiếm khoảng một nửa chiều dài cơ thể. Các chân Thạch sùng đuôi sần có những nhíp nhỏ ở dưới, giúp loài này leo trèo trên các bề mặt khác nhau. Biến dị hình thái giữa các quần thể rất phong phú, phản ánh sự thích nghi với các điều kiện môi trường khác nhau. Các cá thể ở vùng Thanh Hóa thường có kích thước lớn hơn so với các quần thể ở Ninh Bình.

2.1. Tính trạng hình thái đặc biệt

Các đặc điểm sinh học nổi bật của Thạch sùng đuôi sần bao gồm mắt lớn không có mi mắt, được phủ bởi tấm trong suốt. Miệng rộng với nhiều răng nhỏ giúp việc bắt mồi. Xương sống và các mặt bên cơ thể có những sợi nổi bật. Đuôi sần có cấu trúc từng khúc rõ rệt, có khả năng tự cắt cơ chế phòng vệ.

2.2. Biến dị quần thể theo địa lý

Đặc điểm sinh học các quần thể thạch sùng đuôi sần khác nhau rõ rệt giữa các khu vực. Quần thể ở Ninh Bình có màu sắc nhạt hơn, kích thước nhỏ hơn, trong khi quần thể Thanh Hóa có đặc điểm hình thái mạnh mẽ hơn với màu sắc tối hơn. Những khác biệt này phản ánh sự ứng phó với điều kiện khí hậu địa phương.

III. Đặc điểm sinh sản và phát triển

Đặc điểm sinh học liên quan đến sinh sản của Thạch sùng đuôi sần rất quan trọng để hiểu về chu kỳ sống của loài. Loài này là loài trứng sinh, với thời kỳ sinh sản thường xảy ra vào mùa hè (tháng 5-8). Mỗi lần đẻ, Thạch sùng đuôi sần thường đẻ 1-2 quả trứng. Các đặc điểm sinh sản thay đổi theo quần thể và điều kiện môi trường, với những quần thể ở vùng ấm áp có tần suất sinh sản cao hơn. Sự phát triển của cơ quan sinh sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhiệt độ, ánh sáng và các yếu tố khí hậu khác. Các quần thể Thạch sùng đuôi sần ở Thanh Hóa có mùa sinh sản dài hơn so với Ninh Bình do điều kiện khí hậu ấm áp.

3.1. Chu kỳ sinh sản

Đặc điểm sinh học sinh sản của Thạch sùng đuôi sần bắt đầu khi loài đạt độ trưởng thành tình dục vào tuổi 8-10 tháng. Thời kỳ sinh sản chủ yếu tập trung vào mùa hè, khi nhiệt độ cao và thức ăn dồi dào. Cơ quan sinh sản phát triển từ tháng 3-4 và đạt đỉnh vào tháng 6-7.

3.2. Phát triển trứng và non

Các trứng của Thạch sùng đuôi sần được đẻ trong các khe hẹp, dưới vỏ cây hoặc trong các vách đá. Đặc điểm sinh học của trứng bao gồm vỏ có kết cấu dẻo, đường kính khoảng 9-10mm. Thời gian nở trứng khoảng 4-6 tuần tùy theo nhiệt độ môi trường.

IV. Đặc điểm dinh dưỡng và hoạt động sinh học

Đặc điểm sinh học liên quan đến dinh dưỡng của Thạch sùng đuôi sần cho thấy loài này là động vật ăn côn trùng hoàn toàn. Thành phần thức ăn chủ yếu bao gồm các loài kiến, muỗi, ruồi, bọ cánh cứng và các loài côn trùng nhỏ khác. Độ no của loài thay đổi theo mùa, cao nhất vào mùa hè và thấp vào mùa đông. Hoạt động ngày đêm của Thạch sùng đuôi sần có tính chất hoàn toàn về đêm (nocturnal), với pik hoạt động vào buổi tối muộn (20h-23h). Loài này có hoạt động mùa rõ rệt, ít hoạt động vào mùa đông khi nhiệt độ thấp. Các quần thể ở các vùng khác nhau có những đặc điểm dinh dưỡng khác biệt do sự khác nhau trong thành phần côn trùng của môi trường.

4.1. Thành phần và cấu trúc thức ăn

Đặc điểm sinh học dinh dưỡng của Thạch sùng đuôi sần được xác định thông qua phân tích nội dung dạ dày. Các côn trùng cánh cứng (Coleoptera) chiếm tỷ lệ cao nhất (40-50%), theo sau là các loài Diptera (20-30%) và Hymenoptera (15-25%). Độ no trung bình khoảng 65-75%, cao hơn vào mùa hè khi thức ăn dồi dào.

4.2. Hoạt động sinh lý theo mùa và ngày đêm

Thạch sùng đuôi sần là loài hoạt động về đêm, xuất hiện chủ yếu từ 20h đến 24h. Hoạt động mùa rõ rệt với mức độ hoạt động cao nhất vào mùa hè (6-8), giảm đáng kể vào mùa đông. Nhiệt độ môi trường là yếu tố chính ảnh hưởng đến đặc điểm sinh học hoạt động của loài.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Loài là một đơn vị có thực trong sinh giới, là cấu trúc có tính hệ thống toàn vẹn và hoàn chỉnh. Để tiến hành phân loại hay xác định thành phần loài không chỉ mô tả đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hoá và lấy đó làm tiêu chuẩn để phân loại mà điều cơ bản là phải thấy được mức độ và xu hướng biến đổi các đặc điểm hình thái sinh lý của cá thể trong từng cơ thể gắn liền tới đời sống quần thể, hoặc quan hệ giữa các quần thể khác nhau bởi địa hình khí hậu. Chính những hiểu biết này sẽ làm sáng tỏ thêm về ý nghĩa lý luận, cũng như giá trị thực tiễn của những dẫn liệu mô tả đơn thuần về mặt hình thái- phân loại các đặc trưng của loài.

Ngay trong một quần thể của một loài khó có thể tìm thấy hai cá thể là hoàn toàn giống nhau về kiểu hình. Nói cách khác các biến dị quần thể và biến dị cá thể luôn luôn phát sinh và có ý nghĩa khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của loài. Mặt khác, những nghiên cứu theo hướng này sẽ góp phần vào việc xác định sự phân bố của động vật, cung cấp thêm tư liệu cho hướng nghiên cứu phân tích đặc điểm hình thái sinh học quần thể. Việt Nam là một nước có điều kiện khí hậu và điều kiện tự nhiên khá phức tạp.

Hệ động vật, thực vật rất phong phú và mang nhiều sắc thái đặc biệt. Sự đa dạng về kiểu hình ở động vật chủ yếu được thể hiện qua những đặc điểm hình thái, giải phẫu, đặc điểm sinh học. Cho đến nay, theo kết quả điều tra cho thấy ở nước ta có khoảng 176 loài ếch nhái, 369 loài bò sát (Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2009) [46], trong số đó có loài thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus). Đây là loài phân bố rộng rãi trên thế giới như Ấn Độ, các khu vực nam Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Malaysia,.

và ở Việt Nam chúng cũng phân bố khắp nơi. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái, phân loại thạch sùng đuôi sần của các tác giả Trần Kiên, Nguyễn 3 Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1987), Hoàng Xuân Quang (1993) [22]. Gần đây có công trình nghiên cứu của Ngô Thái Lan, Trần Kiên (2000) [14] về thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) ở miền bắc nước ta. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái quần thể còn ít ở tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá, nơi có điều kiện khí hậu khác nhau nhất là sự dao động của nhiệt độ ngày, đêm và mùa, là những yếu tố tạo nên nhiều điểm khác biệt của các quần thể.

Vì vậy nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài này ở Thanh Hóa và Ninh Bình là rất cần thiết, nhằm thấy được thấy được sự khác biệt về những biến dị quần thể cùng với đặc điểm sinh học của loài sống trong điều kiện khí hậu khác nhau. Vì những lý do trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm sinh học các quần thể Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836) ở Yên Mô, Nho Quan (Ninh Bình) và Bỉm Sơn (Thanh Hoá)”. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm hình thái và biến dị quần thể thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836) ở khu vực Bỉm Sơn - Thanh Hoá và Yên Mô, Nho Quan - Ninh Bình - Tìm hiểu một số đặc điểm hình thái và sinh học của quần thể. - Bổ sung tư liệu này góp phần giảng dạy môn sinh thái học ở các trường phổ thông và đại học - Xem xét các biến dị theo sinh cảnh cũng như ở các khu phân bố địa lý động vật của các quần thể.

Đối tƣợng nghiên cứu Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus Schlegel, 1836) 4. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm màu sắc, các tính trạng hình thái và phân tích biến dị hình thái các quần thể thạch sùng đuôi sần. 4 - Nghiên cứu đặc điểm sinh sản: Sự phát triển cơ quan sinh sản, thời gian sinh sản của thạch sùng đuôi sần - Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng: Xác định thành phần thức ăn, xác định độ no của thạch sùng đuôi sần - Nghiên cứu hoạt động ngày đêm, hoạt động mùa của thạch sùng đuôi sần. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Lƣợc sử nghiên cứu ếch nhái bò sát trên thế giới và việt nam 1. Lƣợc sử nghiên cứu ếch nhái bò sát trên thế giới Ếch nhái bò sát từ lâu là đối tượng khai thác cơ bản của con người chúng được sử dụng làm thực phẩm hàng ngày, làm dược liệu bồi bổ cơ thể cũng như các sản phẩm mỹ nghệ khác. Bắt đầu từ việc khai thác sử dụng đã dẫn đến sự ra đời của các công trình nghiên cứu về ếch nhái bò sát. Những công trình nghiên cứu về ếch nhái bò sát có từ thời cổ đại Aristote (384- 322 tr.

Tuy nhiên phải từ sau thế kỷ XIX việc nghiên cứu ếch nhái bò sát mới được tiến hành một cách có hệ thống. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Terentiev (1961), nghiên cứu hệ thống phân loại, nguồn gốc, quy luật phân bố và sự phân bố của các nhóm ếch nhái bò sát trên toàn trái đất. (1943) [51], nghiên cứu khu hệ bò sát Ấn Độ, Ceylon, Mianma và cả Đông Dương thống kê được 400 loài. Nghiên cứu về hình thái giải phẫu, đặc điểm sinh học, tập tính hoạt động của ếch nhái bò sát có các công trình nghiên cứu của Angus d’ A ballair (1975) [38], Coleman Goin(1962) [47].

[48] xây dựng hệ thống phân loại ếch nhái bò sát ở Thái Lan. Trong đó nhóm ếch nhái 6 họ 2 bộ, nhóm bò sát 11họ 3 bộ.C (1983) [44] nghiên cứu khu hệ bò sát Ấn Độ thống kê 116 loài thuộc 21 họ. Trong đó nhóm cá sấu có 3 loài, nhóm rùa 26 loài, nhóm thằn lằn 39 loài. Các tác giả Pope C (1935) [50], Er-Mizhao và Kraig Adler (1993) [49] nghiên cứu khu hệ bò sát Trung Quốc có 209 loài.

Trong đó rùa có 23 loài, 6 họ, 15 giống; rắn 120 loài, 9 họ, 59 giống; thằn lằn có 66 loài, 6 họ, 21 giống. Đặc biệt nghiên cứu ếch nhái bò sát khu vực Đông Nam Á năm 1997 của tác giả Ulrich Manthey và Wolfgang Grossman [47] đã mô tả làm khoá 6 định loại cho 353 loài. Trong đó có 93 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ và 260 loài bò sát thuộc 20 họ, 2 bộ. Bên cạnh việc nghiên cứu các khu hệ ếch nhái bò sát trên các khu vực rộng lớn, việc nghiên cứu cũng được tiến hành ở các nhóm chuyên biệt.

Deuve, (1970) nghiên cứu rắn ở Lào thống kê được 64 loài rắn thuộc 6 họ. Siant Girons H, (1972) nghiên cứu các đặc điểm sinh thái, sinh học của rắn, xây dựng hệ thống định loại rắn ở Campuchia gồm 61 loài, 9 họ, 34 giống. Cho đến nay song song với việc nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát các nhà nghiên cứu còn đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm sinh thái của các quần thể những loài chuyên biệt. Lƣợc sử nghiên cứu ếch nhái bò sát Việt Nam Trước đây, những công trình nghiên cứu về ếch nhái bò sát ở Việt Nam do người nước ngoài tiến hành và công bố chung với vùng Đông Dương: Tirant (1985), Boulenger (1903), Mocquard (1906), Smith (1921, 1923, 1924.

Nhưng đáng chú ý nhất là công trình của Bourret R trong khoảng thời gian từ 1924 - 1944 đã đề cập nhiều tới ếch nhái bò sát Đông Dương, trong đó có Việt Nam, có tới 177 loài và lòai phụ thằn lằn; 254 loài và loài phụ rắn; 44 loài và loài phụ rùa đã được thống kê và mô tả [40] Từ năm 1954 sau khi hòa bình lặp lại công tác điều tra động vật trong đó có ếch nhái bò sát được tiến hành ở Miền Bắc. Nhiều công trình được công bố: Năm 1960, Giáo sư Đào Văn Tiến [42] nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống ở Vĩnh Linh thống kê nhóm ếch nhái bò sát có 12 loài. Năm 1977 nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khóa định loại ếch nhái Việt Nam và công bố 87 loài ếch nhái thuộc 3 bộ 12 họ. Năm 1979 tiếp tục thống kê 77 loài thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam [35] 7 Nguyễn Văn Sáng, (1981) [27] nghiên cứu khu hệ rắn trên toàn miền bắc đã thống kê phát hiện 89 loài thuộc 36 giống, 6 họ, 1 bộ, trong đó có 14 loài rắn độc.

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, (1985) [7] báo cáo danh lục khu hệ ếch nhái bò sát Việt Nam gồm 160 loài bò sát và 90 loài ếch nhái. Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lý, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài.Có thể xem đây là đợt tu chỉnh đầu tiên về danh sách ếch nhái bò sát ở nước ta Từ năm 1990 trở lại đây việc điều tra thành phần loài ếch nhái bò sát ở các khu hệ địa phương vẫn được tiếp tục: Hoàng Xuân Quang (1993, 1995) [22, 24] điều ta thống kê danh sách ếch nhái bò sát ở các tỉnh bắc trung bộ gồm 94 loài bò sát xếp trong 59 giống 17 họ và 34 loài ếch nhái xếp trong 14 giống 7 họ. Tác giả đã bổ sung cho danh lục bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung cho vùng phân bố 9 loài. Bên cạnh đó kèm theo sự phân tích sự phân bố địa hình sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố ếch nhái bò sát trong nước Ngô Đắc Chứng (1995) [3] thống kê danh sách ếch nhái bò sát Vườn Quốc Gia Bạch Mã gồm 49 loài thuộc 15 họ, 3 bộ, họ có số loài nhiều nhất là họ Ranidae (11 loài ) và họ Colubridae (11 loài).

Có 3 loài ếch nhái và 8 loài bò sát được xem là quý hiếm. Nguyễn Văn Sáng (1995) nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát Tây Nguyên có 42 loài ếch nhái, 7 loài rùa, 37 loài thằn lằn, 57 loài rắn. Có ít nhất 10 loài mà các tác giả chưa định được tên hoặc ở dạng phụ. Nguyễn Văn Sáng, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Nguyên Bình, (1995) [29] nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát ở vùng Ba Vì xác định được 8 loài ếch nhái thuộc 4 họ, 1 bộ và 54 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ