đặt vấn đề. Trên phương diện chuyên luận, Tau biểu dau tranh ngoại giao Nguyễn Trãi của Nguyễn Văn Nguyên 13 đã khảo cứu về hai thể tấu, biểu trên phương diện so sánh văn bản, chú thích điển cố, ít khảo cứu bình luận về ngôn ngữ và nghệ thuật dụng ngôn; Văn chương khoa cử thời Lê sơ của Nguyễn Văn Thịnh, tuyển chọn và phân tích về một số văn thê thời Lê, trong đó có văn bản hành chính. Ở quy mô nhỏ hơn là các bài viết tạp chí nhưng do giới hạn về dung lượng nên mỗi bài viết thường chỉ tập trung vào một, hai vấn đề cụ thể của ngôn ngữ Hán văn nói chung, trong đó có ngôn ngữ trong văn bản hành chính Hán văn, như giới thiệu hoặc xem xét sơ qua đặc điểm cấu trúc, xuất xứ hoặc lịch sử của một văn bản riêng lẻ hoặc một thê loại, không xem xét chỉnh thể toàn bộ hệ thống văn bản hành chính cũng như đặc điểm ngôn ngữ của văn bản hành chính của thời trung đại. Cũng phải nhắc tới các công trình tập trung vào những van đề chung nhất của từ Hán Việt (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) tiêu biểu như Wgữ pháp Hán ngữ cổ đại của Dinh Trọng Thanh.
Ngoài ra phải kế đến các sách từ điển — nguồn từ vựng Hán văn phong phú như Giúp đọc Nôm và Hán Việt của Anthony Trần Văn Kiệm tại Mỹ, 7? điển Hán Việt của Thiều Chửu, Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh. Đương nhiên những tác phẩm dạng này không nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ Hán văn trong những văn bản hành chính cụ thể. Song hành với ngạch Hán Nôm, mảng trung đại của ngành văn học tuy không đi chỉ tiết vào văn tự, từ rời lẻ nhưng dựa trên cơ sở lý luận để phân tích, bình điểm một cách hệ thống các chỉnh thé văn bản nên làm nỗi bật được đặc điểm nghệ thuật, phương pháp dụng chữ, câu đề thể hiện ý đồ của tác giả sáng tạo văn bản, có giá trị lớn đối với nghiên cứu ngôn ngữ ở mặt ngữ dụng, văn phong. Trong các giáo trình về văn học trung đại tại các trường đại học cũng như sách giáo khoa phô thông đều có đề cập tới những văn bản và văn thé hành chính tiêu biểu nhưng không đặt trong hệ thống văn bản pháp quy, hệ thống chức năng hành chính của văn bản pháp quy mà đi từ góc độ nghệ thuật của văn bản và đặt vào hệ thống thể loại của văn học nghệ thuật, về co bản gần giống với hướng “ngữ nghĩa — huấn hỗ” của thời trung đại.
Tuy nhiên do ít dựa trên thực tế văn bản Hán Nôm, chủ yếu phân tích trên bản dịch nên các công trình ngạch văn học không cung cấp nhiều dữ liệu về ngữ pháp, từ vựng. Những thé loại thường được khảo cứu, bình phẩm nhất là Chiếu 14 (Thiên đô chiếu, Tức vị chiếu, Can Vương chiếu, Lâm chung di chiéu. Từ góc độ của ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu về Hán văn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực ngữ âm và từ vựng Hán Việt ở mặt tổng quan cũng như ảnh hưởng của chúng tới tiếng Việt, không đi sâu vào các văn bản hành chính cụ thé của thời trung đại. Trong các chuyên ngành liên quan trực tiếp đến văn bản hành chính nói chung như: lưu trữ-quản trị văn phòng hay hành chính, mặc dù có khảo xét văn bản hành chính cô trung đại nhưng đều ở góc độ kỹ thuật soạn thảo, phương thức ban hành, và sơ lược về văn phong, còn vấn đề ngôn ngữ cụ thể trong văn bản chưa được tìm hiểu kỹ, tiêu biểu như Van bản quản lý nhà nước thời Nguyễn: Giai đoạn 1602 - 1884 cua Vũ Thị Phụng.
Mặc dù các học giả tại Việt Nam hiện đại có quan tâm tới chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư cũng như các thé loại văn bản hành chính trung đại, tuy nhiên đa phan tập trung vào bình diện văn chương nghệ thuật hoặc cơ quan ban hành, cách soạn thảo, phát bố, lưu hành và mới chỉ đề cập tới hệ thống ngôn ngữ trong các văn bản nhóm hành chính nghi thức, chưa phân tích nhóm văn bản xuất phát từ sự vụ hành chính thường nhật của chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư. Nghiên cứu ngôn ngữ chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư trong châu bản triều Nguyễn Là khối tư liệu độc bản thé hiện sát thực thé chế và điển chương của triều Nguyễn nên ngay từ khi được tiếp quản sau chiến tranh, châu bản đã được quan tâm khảo cứu, tuy nhiên phần lớn là các sách biên mục hoặc tuyén tập giới thiệu, ít công trình đi sâu vào nội tại văn bản cũng như nội dung ngôn ngữ. Những công trình biên mục, trích yếu tiêu biéu: - Mục lục châu bản triều Nguyễn tập I do Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam - Viện Đại học Huế biên dịch tóm tắt, công bố xuất bản năm 1960 gồm bốn tập châu bản triều Gia Long (từ tập 1 đến tập 4) với 723 văn bản. 15 - Mục lục châu bản triều Nguyễn tap II cũng do Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam - Viện Đại học Huế biên dịch tóm tắt, công bố xuất bản năm 1962 gồm mười tập châu bản triều Minh Mệnh (từ tap | dén tập 10) với 971 văn ban.
- Mục lục châu bản triều Nguyễn tập I do Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I biên tập xuất bản, NXB Văn hóa - Thông tin ấn hành năm 2010. - Mục lục châu bản triều Nguyễn tập II do Cục lưu trữ nhà nước phối hợp với Đại học Huế, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hoá biên tập xuất bản và được NXB Văn hoá ấn hành năm 1998. Bản dịch sang tiếng Anh của sách do nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2000 với sự tài trợ của Quỹ Toyota Foundation (Nhật Bản). Tiếp đến là các công trình tuyên dịch, lược thuật và di sâu khai thác giá tri nội dung của tư liệu châu bản như: - Châu bản triéu Tự Đức 1848 - 1883: tuyển chon và lược thuật do nhóm tác giả Vũ Thanh Hang, Tra Ngoc Anh, Ta Quang Phat tuyén chon, lược dich và Giáo sư Trần Nghĩa giới thiệu.
- Châu bản triều Nguyễn - tư liệu Phật giáo qua các triều đại nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 đến Bảo Dai 1945 do Ly Kim Hoa sưu khảo, biên dich lược thuật gồm 250 văn bản châu bản về các vấn đề liên quan đến phật giáo triều Nguyễn, nhà xuất bản Văn hoá thông tin ấn hành năm 2002. - Ngự chế van (Du văn) triều Minh Mạng do Trần Văn Quyền tuyển dịch va giới thiệu, NXB Hà Nội năm 2000. Công trình đầu tiên chuyên sâu vào vấn đề bố cục hình thức, thể cách của văn ban châu bản triều Nguyễn là luận văn thạc sỹ Cấu tric nội tại của loại hình châu bản trên cứ liệu châu bản triều Minh Mạng, bảo vệ năm 2011 của thạc sỹ Nguyễn Thu Hoài, tuy vậy trong luận văn của mình tác giả chưa nhắc đến khía cạnh ngôn ngữ. 16 Nhìn chung các nghiên cứu về châu bản mới chỉ dừng lại ở việc trích dịch, giới thiệu, tìm hiểu đặc điểm hình thức hoặc khai thác giá trị về sử liệu, chưa đi sâu và hệ thống hóa đặc điểm ngôn ngữ.
Mục tiêu nghiên cứu Phân loại nhóm ngôn ngữ và phân tích đặc điểm các nhóm ngôn ngữ của văn bản quản lý nhà nước Việt Nam giai đoạn 1902 - 1945 trong châu bản hành chính triều Nguyễn ở sáu thé loại: chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư. Phạm vi nghiên cứu 4. Pham vi tư liệu Luận văn sử dụng tư liệu văn bản hành chính trong châu bản hiện lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I trên cơ sở tuyên chọn những văn bản tiêu biểu của 6 thê loại chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư. Điều này không ảnh hưởng lớn tới công việc định hình hệ thống ngôn ngữ, bởi đặc điểm của văn bản hành chính là chuẩn mực theo khuôn mẫu định sẵn.
Ngoài ra, do là một luận văn thuộc chuyên ngành Hán Nôm, chúng tôi chỉ đề cập tới các văn bản châu bản hành chính bằng chữ Hán, bỏ qua các dạng châu bản hành chính bằng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp trong hệ thống châu bản. Phạm vi nội dung Mỗi ngôn ngữ là một chỉnh thé hoàn chỉnh cấu thành từ 3 phương diện: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, trong đó ngữ âm là biéu nghĩa bang âm của từ vựng trong ngôn ngữ, từ vựng là các thành tổ hạt nhân trong kiến trúc ngôn ngữ, ngữ pháp là kết cấu tổ chức của các thành tố hạt nhân trong ngôn ngữ. Mặc dù ngôn ngữ trong văn bản là dang ngôn ngữ viết không liên quan nhiều đến ngữ âm, nhưng tại Việt Nam và Trung Quốc thời kỳ cổ trung đại, vận dụng thanh điệu bằng trắc vào câu văn là một đặc điểm nổi bật nên ngoài từ vựng và ngữ pháp, chúng tôi sẽ nêu sơ qua các vấn đề ngữ âm để tạo tiền đề làm rõ thủ pháp đối ngẫu trong các văn bản hành chính: chiếu, chỉ, dụ, tấu, biểu, tư. Vấn đề từ vựng, ngữ pháp cũng được trình bày với tư cách là những nhân tố làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ trong châu bản hành chính.
Phương pháp nghiên cứu Đặc điểm của ngôn ngữ chịu tác động của nhiều mặt, bao gồm cả tác nhân chủ quan từ tâm lý chủ thể sử dụng và tác nhân khách quan của bối cảnh khu vực địa lý — xã hội, đồng thời mang tính kế thừa lịch sử - đặc điểm được chủ nghĩa Mác — Lênin đặc biệt nhắn mạnh. Điều này có thê nhận biết khi đi vào thực tế đặc điểm ngôn ngữ sử dụng trong các văn bản chiếu, chi, dụ, tau, biéu, tư. Chiếu, chi, dụ, tấu, biểu, tư trong triều N guyễn có lịch sử phát triển kế thừa lâu dài, vừa mang đặc điểm chung của nhóm ngôn ngữ Hán tạng, vừa có đặc điểm riêng của văn ngôn hành chính trung đại phương Đông nên cần kết hợp cả hai phương pháp so sánh lịch sử và phương pháp loại hình khu vực để xem xét một cách toàn diện. Nhiều tác phâm không chỉ dừng lại ở trình bày công vụ sự việc mà đạt đến tầm nghệ thuật như một tác phẩm văn học nghệ thuật thực thụ nên nếu chỉ thuần áp dụng các phương thức phân tích kỹ thuật về cấu trúc, chú nghĩa từ, nghĩa câu là chưa đủ, cần áp dụng phương pháp tong hợp bình chú.
Ngôn ngữ và những biến động của ngôn ngữ dù xuất phát từ yêu cầu của hoàn cảnh thực tế nhưng là sản phâm của bộ óc con người nên chịu sự tác động của con người.