chương I được tác giả luận văn trình bày thành 3 vấn đề: Vùng đất Nam Kỳ trước khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây; sự phát triển của văn minh phương Tây; những con đường du nhập vào Nam Kỳ của văn hóa phương Tây. Chương 2: Chữ quốc ngữ - Sảnphẩm của quan hệ văn hóa giữa Nam Kỳ với phương Tây Là sản phẩm trực tiếp của cuộc tiếp xúc văn hóa phương Tây ở Nam Kỳ, chữ quốc ngữ hình thành qua một quá trình lâu dài, gắn liền với nhu cầu truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây. Tuy nhiên, vừa mới ra đời, chữ quốc ngữ đã được chính quyền thực dân tìm cách biến thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho chính sách văn hóa, giáo dục, nhằm khẳng định ảnh hưởng của văn minh phương Tây lên đất Nam Kỳ, ý định xóa bỏ Nho học đang trên đà suy đồi. Giới sĩ phu Việt Nam cũng nhận ra lợi thế của chữ quốc ngữ, nên đã ra sức cổ vũ học tập quốc ngữ.
Chữ quốc ngữ vì thế càng được dịp lan tỏa. Chương II được tác giả chia thành 3 phần nhỏ: quá trình hình thành chữ quốc ngữ; chữ quốc ngữ trong chính sách văn hóa của chính quyền Pháp ở Nam Kỳ; chữ quốc ngữ trong quá trình tồn tại song song của giáo dục Âu hóa và Nho học ở Nam Kỳ. Chương 3: Vai trò của chữ quốc ngữ trong một số lĩnh vực văn hóa – xã hội ở Nam Kỳ 17 Sau khi đã hoàn thiện và trở thành chữ viết thống nhất, được áp đặt cho một nền giáo dục mới, bắt buộc trong các cơ quan hành chính, báo chí, chữ quốc ngữ được dịp chứng tỏ sức ảnh hưởng của mình đến hầu hết mọi lĩnh vực văn hóa – xã hội của người Việt, làm chuyển biến những loại hình văn hóa truyền thống theo hướng phương Tây hóa, đồng thời du nhập những loại hình văn hóa mới có nguồn gốc từ phương Tây. Do vậy, ở chương III, tác giả luận văn làm rõ vai trò của chữ quốc ngữ trên các lĩnh vực: giáo dục, báo chí, văn học, nghệ thuật, di sản Hán – Nôm, quá trình đô thị hóa, đấu tranh cách mạng.
BỐI CẢNH QUAN HỆ VĂN HÓA GIỮA VÙNG ĐẤT NAM KỲ VỚI PHƯƠNG TÂY Nam Kỳ là tên gọi của vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay. Trước khi có cuộc tiếp xúc với văn hóa phương Tây, Nam Kỳ được hình thành trong bối cảnh của những biến động chính trị - xã hội ở Đại Việt, dẫn đến công cuộc mở cõi của các chúa Nguyễn về phía Nam. Vớivị trí địa lý mang tính chiến lược trên con đường hàng hải quốc tế, Nam Kỳ nhanh chóng tỏ ra là một địa điểm thu hút đông đảo người phương Tây đến giao lưu buôn bán, tìm kiếm thị trường, nhất là trong bối cảnh châu Âu đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế tư bản chủ nghĩa và sự bùng nổ của nền văn minh công nghiệp. Văn minh phương Tây thời cận đại 1.
Khái niệm văn minh và sự phân biệt “phương Tây”,“phương Đông” Từ “văn minh” (civilisation, civilization) trong các ngôn ngữ phương Tây đều có nguồn gốc Latinh là civitas, nghĩa là trạng thái đã được khai hóa, thoát khỏi trạng thái nguyên thủy, không còn trong tình trạng ăn lông ở lỗ, hái lượm. mà đã định cư thành những cộng đồng. Civitas cũng có nghĩa là tình trạng đã có quốc gia, chính quyền, luật pháp. Trần Quốc Vượng, văn minh là khái niệm được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của con người ở vào trạng thái phát triển cao nhất của nền văn hóa, trong một thời kì lịch sử nào đó [121, tr.
Các yếu tố căn bản của văn minh bao gồm: “sự phóng xa về kinh tế, sự tổ chức chính trị, những truyền thống luân lý và sự tăng tiến tri thức, phát triển nghệ thuật” [123, tr. Trên thế giới, các nền văn minh không đứng cô lập và bất biến mà thường xuyên diễn ra sự tiếp xúc và giao lưu. “Xuyên suốt và điển hình nhất” [70, tr.12] là quá trình tiếp xúc và giao lưu giữa các nền văn hóa và văn minh phương Đông với phương Tây. Để có cái nhìn toàn diện về quá trình này, cần có sự phân biệt các thuật ngữ “phương Tây”, “phương Đông”.
19 Thuật ngữ “phương Tây” có nguồn gốc hoàn toàn từ châu Âu. Thời cổ đại, khi vùng ven Địa Trung Hải có nhiều trung tâm buôn bán, người ta dùng thuật ngữ “phương Tây” để chỉ khu vực phía Tây Địa Trung Hải. Trong buổi đầu của sự tiếp xúc Đông – Tây, trong cái nhìn của người phương Đông, các thuật ngữ phương Tây, Tây Âu, Tây Dương, Thái Tây… có một ý nghĩa đơn giản và liên hệ nhiều đến phương hướng, để chỉ các vùng đất châu Âu của người châu Âu với các đặc điểm về chủng tộc như: da trắng, tóc và lông màu hung đỏ, mà trước đây người phương Đông thường hay gọi là “bạch quỷ” hay “hồng mao”…có những tập tục, truyền thống, lối sống khác hẳn với người phương Đông. Do vậy, khái niệm phương Tây còn được người phương Đông dùng với ý nghĩa chỉ chủng tộc người da trắng mà không cần phân biệt người đó là người Âu hay người Mỹ.
Theo thời gian, do hoàn cảnh lịch sử, thuật ngữ “phương Tây” bao gồm thêm cả Bắc Mỹ. Có cách hiểu như vậy vì người ta thấy có sự tương đồng về các yếu tố của văn minh như: lý luận và tổ chức chính trị, lý luận và tổ chức kinh tế, hoàn cảnh sinh hoạt xã hội. Trong thời kì chiến tranh lạnh, sau khi các nước Đông Âu tuyên bố đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và sau bài diễn văn của Tổng thống Mỹ H. Truman (3 – 1947), các nước Tây Âu đã tập hợp lại với nhau thành một khối để chống lại “nguy cơ chủ nghĩa xã hội”.
Từ đó, thuật ngữ “phương Tây” thường được dùng để chỉ các nước tư bản chủ nghĩa, là một thế giới đối lập với thế giới cộng sản. Khái niệm “phương Tây” được dùng trong luận văn này với nghĩa bao gồm những quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ. “Phương Đông” cũng là một khái niệm có nội dung rất rộng. Từ thời cổ - trung đại, cư dân hai bên bờ Địa Trung Hải dùng thuật ngữ “phương Đông” để chỉ vùng đất nằm ở phía Đông Địa Trung Hải, nghĩa là vùng đất phía Mặt trời mọc.
Dần dần cùng với thời gian, tầm mắt và hiểu biết của con người cũng được mở rộng ra. Người châu Âu với ưu thế phát triển của mình, qua các cuộc khám phá, những phát kiến địa lí, họ thấy rằng vùng đất Mặt trời mọc không chỉ là vùng đất chật hẹp nằm ở phía Đông Địa Trung Hải, mà còn là những vùng đất xa xôi bên kia các đại dương. Họ gọi là vùng đất 20 Tân thế giới. Từ đó còn có một cách hiểu mới về phương Đông: phương Đông là khu vực các nước ngoài châu Âu và Bắc Mĩ.
Trong thế kỉ XIX, xuất phát từ quan điểm “lấy châu Âu làm trung tâm”, làm điểm chuẩn, các học giả châu Âu đã gọi các khu vực Tây Á, Trung Á, Đông Á và Đông Nam Á bằng những tên gọi “không chính xác” [43, tr.15] là Cận Đông (Near East, Proche-Orient), Trung Đông (Middle East, Moyen-Orient) và Viễn Đông (Far East, Extreme Orient). Trong luận văn này, thuật ngữ “phương Đông” được hiểu là những quốc gia thuộc các khu vực châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh. Như vậy, vấn đề “phương Đông”, “phương Tây” là một vấn đề thuộc về nhận thức, lúc đầu đơn thuần dùng để chỉ phương hướng, sau đó nó gắn liền với yếu tố lịch sử và màu sắc chính trị. Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, sự phân biệt hai khái niệm phương Đông và phương Tây về mặt văn hóa - văn minh cũng dần hình thành và “mang một ý nghĩa tương đối, theo quy ước” [43, tr.
Khi đó, nhắc đến Phương Đông, người ta nghĩ ngay đến một nền văn minh của những dòng sông lớn, nền kinh tế nông nghiệp, những quốc gia quân chủ chuyên chế và những tôn giáo, hệ tư tưởng đóng kín, không thay đổi. Văn hóa phương Đông thường chứa một tư duy tổng hợp, cầu tính, duy linh, một hệ giá trị thiên về tinh thần, đạo đức tình nghĩa, mang tính truyền thống cộng đồng, trong đó con người hòa đồng với tự nhiên, xã hội và tâm linh. Văn hóa Đàng Trong – văn hóa Nam Bộ của người Việt cũng mang những đặc điểm chung của văn hóa phương Đông. Trong khi đó, văn minh phương Tây dựa trên nền kinh tế thương mại đường biển, những thể chế chính trị đa dạng sớm tiếp cận đến nền cộng hòa dân chủ, những trào lưu văn hóa tư tưởng luôn biến động và mang tính chất mở.
Văn hóa phương Tây thiên về lối tư duy phân tích, tuyến tính, duy lý, một hệ giá trị đề cao sự tiến bộ, phát triển kinh tế vật chất, một con người cá nhân có ý thức đấu tranh cho tự do và sự giải phóng. Thời cận đại, phương Tây thường gắn liền với nền văn minh tư bản chủ nghĩa, một nền văn minh mang nhiều nét đặc trưng. Những đặc trưng của văn minh phương Tây Sau khi giành được thắng lợi trong các cuộc cách mạng tư sản, châu Âu đã tiến hành cách mạng công nghiệp tạo nên một bước chuyển biến to lớn của lịch sử nhân 21 loại, làm xuất hiện nền văn minh công nghiệp, được xem là một nền văn minh tiên tiến, lấn lướt cả nền văn minh nông nghiệp phương Đông “bị coi là thủ cựu, là lạc hậu” [69, tr. Văn minh phương Tây thời cận đại tiếp tục phát triển nhanh chóng và hình thành những đặc trưng cơ bản.
Thứ nhất, đây là một nền văn minh công nghiệp và nhà nước hiện đại. Châu Âu là nơi thực hiện thành công và trở thành trung tâm của cuộc cách mạng công nghiệp, một sự kiện quan trọng của lịch sử xã hội loài người, đưa châu Âu đến với văn minh công nghiệp. Khởi đầu là sự ra đời của máy móc và cải tiến kĩ thuật, trước hết là trong ngành dệt, chuyển từ lao động thủ công sang lao động bằng máy. Giai cấp tư sản Anh là những người đi đầu trong các phát minh và sử dụng máy móc.
Những kết quả bước đầu đó của nền văn minh công nghiệp nhanh chóng lan tỏa khắp các nước Âu – Mỹ. Trình độ kĩ thuật ngày càng hoàn thiện với năng suất và độ chính xác ngày càng cao đánh dấu những bước tiến rất cơ bản trong nền văn minh công nghiệp châu Âu.