CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái quát về từ và ngữ 1. Khái quát về từ Theo quan điểm về từ của GS.TS Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có ý nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [11, tr.18] Trong trang 108 “Từ và nhận diện từ tiếng Việt” [11] Đơn vị cơ bản của từ vựng là từ.
Bên cạnh các từ, trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ còn tồn tại rất nhiều các cụm từ cố định, thường được gọi là các ngữ (thành ngữ, quán ngữ…). Cụm từ cố định có nhiều điểm giống với từ: chúng cũng có khả năng tái hiện trong lời nói như các từ; về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể là thành phần của câu, cũng có cơ sở để cấu tạo các từ mới; về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu thị những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người. Chính vì vậy, các cụm từ cố định cũng nằm trong thành phần từ vựng của ngôn ngữ, cũng được hệ thống hóa trong các từ điển. Từ là cụm từ cố định được coi là những đơn vị định danh cơ bản của ngôn ngữ, thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng… của thực tế.
Tuy nhiên, cụm từ cố định không phải là đơn vị từ vựng cơ bản, bởi vì chúng do các từ cấu tạo nên, muốn có các cụm từ cố định trước hết phải có các từ. Một số quan niệm về từ của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới: - Nhà ngôn ngữ học lớn nhất của châu Mĩ nửa đầu thế kỉ XX Leonard Bloomfield cho rằng: Từ là hình thái tự do nhỏ nhất, mà hình thái tự do nhỏ nhất là bất kỳ hình thái nào có thể xuất hiện với tính cách một phát ngôn, khác với hình thái rằng buộc vốn không thể nói riêng một mình. - Emeneau (1951) định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu. 14 - Nhà ngôn ngữ học I.Invanova: Có lẽ những lời phàn nàn về sự vắng mặt của một định nghĩa từ phù hợp với tất cả các ngôn ngữ về mặt loại hình khiến cho không thể có một định nghĩa từ cụ thể nào thoã mãn tất cả các ngôn ngữ.
Tóm lại, Từ được coi là một đơn vị cơ bản hiển nhiên của ngôn ngữ. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về từ trên thế giới. Tuy nhiên có thể nhận thấy, dù mỗi nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều có những định nghĩa và cách lý giải khác nhau về từ song từ vẫn có những đặc tính phổ quát chung như sau: - Thứ nhất: Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa. - Thứ hai: Từ có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời nói và trong câu.
Các loại từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo 1. Từ đơn Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Ví dụ: xe, nhà, cửa, ghế, bàn, rừng, núi, mây, nước, học, ngủ, đất, thương, yêu, mưa, bão, lũ, ngày, tháng, năm, ông, bà, ba, mẹ, buồn, vui, học, chơi, ăn, ngồi, viết, chán, mệt, sợ… Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,… Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm,… 1.
Từ ghép Hiểu đơn giản, từ ghép là loại hình từ được tạo thành từ ít nhất với hai từ đơn, với điều kiện các từ này phải có nghĩa và có mối quan hệ với nhau về nghĩa. Từ ghép làm cho câu trở nên logic về hình thức và cả nội dung, đọc lên nghe mạch lạc và nghĩa rõ ràng chính xác. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ phân từ ghép ra làm 2 loại chính: a. Từ ghép đẳng lập 15 Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là: – Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.
– Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: + Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó: • Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn bè, đầu lòng… • Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: chiến lược, giảm tải, quy mô, phục hổi, khẳng định, quan điểm, áp lực, gia hạn, tích cực, thí sinh, biện pháp, địa phương, nguyên nhân, hạn chế, hoạt động, cộng đồng, tình trạng, sơ cấp, đào tạo… • Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: lây lan, quyên góp, chung sức,….
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa, lặp nghĩa. Ví dụ: tìm kiếm, thay đổi, núi non, cấp bậc, binh lính + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Ví dụ: ngược xuôi, trước sau,… – Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát). – Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp.
Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập: đơn nghĩa, gộp nghĩa và hợp nghĩa. + Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là nghĩa của từ ghép trùng với nghĩa của một tiếng cấu tạo nên từ tố đó.
Ví dụ: thay đổi, núi non, tìm kiếm, binh lính,… 16 + Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức từ ghép gộp nghĩa là những tiếng cấu tạo nên từ kết hợp cùng nhau lại để biểu thị ý nghĩa chung của cả từ ghép đó. Ví dụ như đi đứng, học tập, ăn uống, trường lớp, quần áo, nhà cửa, sách vở…. + Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: là loại từ ghép mà nghĩa của nó biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, khái quát hơn so với nghĩa các tiếng trong từ.
Mỗi từ ghép tổng hợp đều có nghĩa nhất định, nhưng khi ghép 2 từ lại với nhau thì ý nghĩa sẽ bao quát hơn, mở rộng nghĩa lớn hơn. Từ ghép tổng hợp thường dùng để chỉ người hoặc vật nói chung. Ví dụ: đất nước, non sông, giang sơn…. Từ ghép chính phụ Từ ghép chính phụ có tiếng chính và tiếng phụ bổ sung nghĩa cho tiếng chính.
Trong từ ghép chính phụ có nguồn gốc thuần Việt, tiếng chính thường đứng trước, tiếng phụ đứng sau. Trong từ ghép chính phụ có nguồn gốc Hán Việt, tiếng chính có thể đứng trước hoặc đứng sau so với tiếng phụ. Loại này có những đặc điểm sau: Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể. Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.
Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại: + Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Ví dụ: - Các loại bánh: Bánh đúc, bánh bèo, bánh chưng, bánh tét, bánh canh,… 17 - Các việc làm: Làm việc, làm dâu , làm thợ, làm ruộng, làm duyên,… - Các loại xe: Xe đạp, xe máy, xe ô tô, xe máy cày, xe đạp,… - Các loại máy: máy may, máy giặt, máy rửa chén, máy bơm,… - Các kiểu vui: vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,… Trong các ví dụ trên có thể thấy các từ đứng trước là từ chính, từ theo sau là tự phụ, bổ nghĩa cho từ trước, và từ đi sau là yếu tố tạo nên nghĩa chính của từ. + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa.
* Từ láy (nối âm): Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H., 1997: Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm). Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt. Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối).
Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần. Vì thế, nếu chỉ có điệp mà không có đối (chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành ngành… thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy. Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, có thể phân loại từ láy như sau: Láy hoàn toàn.